11. Giết Phật

Đừng tìm cách đi theo dấu chân của những người thông thái,
Hãy tìm kiếm thứ mà họ đã tìm.
-Basho-

Trời mưa. Sấm và chớp đang lập lòe và xé rách bầu trời. Thoreau (nd: nhà thơ Henry David Thoreau) đã gọi mình là một thanh tra bão tuyết và mưa giông tự bổ nhiệm, và nếu ý ông ấy là ông rất say mê chúng và sẽ luôn buộc mình phải quan sát chúng cho dù có phải rời khỏi cái giường ấm áp để làm thế, vậy thì tôi hiểu, và tôi, cũng là một thanh tra bão tuyết và mưa giông tự bổ nhiệm.

Đó là một sáng sớm, mặt trời mới vừa mọc lên, và cơn giông bão đã kéo tôi dậy khỏi giấc ngủ. Tôi quấn mình trong một cái chăn và ngồi cuộn mình ấm cúng trên băng ghế đối diện hướng tây ở phòng ngủ của tôi trên tầng hai. Hầu hết khí tượng thời tiết của chúng tôi ở đây đều tới từ hướng tây.

Tôi luôn có cảm giác rằng những cơn giông bão là cảnh tượng ngoạn mục cho sự giải trí cá nhân của tôi và tôi sẽ cảm thấy một nỗi đau tội lỗi nếu tôi không để ý tới chúng. Tuy nhiên, bởi vì chúng đã mang lại niềm thỏa mãn như vậy cho tôi nên việc để ý tới chúng cũng không phải là một điều gian lao gì. Tôi nghĩ những cơn giông bão giống như là những âm thanh huyên náo và màn trình diễn ánh sáng của vũ trụ dành cho những người ngưỡng mộ sự uy nghi và hùng tráng của chúng. Nó không có gì liên quan tới giác ngộ, chỉ là một điều mà tôi thích.

Andrew là vị khách duy nhất từng ngồi trên ghế băng ở tầng hai cùng với tôi. Họ thường không tới gần căn buồng ngủ chính, trừ khi có liên quan đến việc dọn dẹp phòng. Chuyện này khá là xấu hổ, thực sự đấy. Sau cùng thì, chẳng có một lý do nào trên trái đất này để mà khiến tôi không tự dọn giường của mình. Tôi không biết điều gì đã xảy ra trong cuộc sống của mình mà đã khiến cho mọi người đến đây làm mọi thứ giúp tôi. Thực ra thì gần đây cũng có một lần sau bữa tối, tôi cũng đã ép nạt những người khác đi ra ngoài để tự mình vào bếp dọn dẹp. Tôi không làm thế để trở thành một gã tốt bụng, hoặc để chắc chắn công việc được hoàn thành, tôi làm vậy chỉ vì tôi thích thú khi làm vậy. Tôi thích rửa bát và dọn bếp. Khó tin nhỉ.

Hè năm ngoái tôi có mời Andrew lên đây sau một cơn bão buổi chiều. Cá nhân tôi thích Andrew. Anh ấy khoảng ba mấy tuổi, gầy, nói năng nhỏ nhẹ, và đã là một Phật tử trong gần hết quãng thời gian làm người trưởng thành. Tôi nhớ rằng anh ấy là một người tu tập thiền Vipassanna, điều đó có thể lý giải tại sao anh ấy có thái độ luôn tự giữ mình bình thản. Tôi đã muốn có một ai đó cùng mình ngắm bão và Andrew có vẻ như là một sự lựa chọn tốt, có nghĩa là anh ấy có vẻ như ngồi yên tĩnh và đánh giá cao cơn bão.

Thực sự thì anh ấy đã đúng như vậy. Khi cơn bão gần tan, chúng tôi rót trà và thảo luận về mối quan hệ của anh ấy với Phật giáo. Tôi đã có hứng thú với quan điểm và kinh nghiệm của anh ấy. Tôi chưa bao giờ thực sự hiểu Phật giáo về mặt khái niệm. Tôi hiểu Thiền tông một cách hoàn hảo – ít nhất là ở phiên bản được chưng cất cao của tôi – tuy nhiên, nghe có vẻ lạ, tôi chưa bao giờ thực sự kết nối được Thiền tông tới Phật giáo. Một lý do là, tôi chưa thể hiểu tại sao ham muốn lại là một gã xấu còn lòng từ bi lại là một gã tốt. Suzuki từng nói rằng Phật pháp không phải là thứ mà bạn có cảm giác sâu sắc tới, mà nó là những thứ thông thường như ăn uống hoặc đi ngủ cũng là Phật pháp. Hiện tại tôi có đọc những cuốn sách về nó và tôi đã hiểu lờ mờ, nhưng hầu hết vẫn là không hiểu. Tôi nghĩ lý do mà tôi không hiểu là do tôi cứ nghĩ rằng mục đích của Phật giáo là thức tỉnh khỏi ảo tưởng, nhưng có thể nó không phải vậy. Có thể mục đích của nó của chỉ là ăn uống và đi ngủ.

Thứ đã lôi kéo Andrew tới Phật giáo khá là thú vị, nhưng nghe anh ấy nói về điều đó chỉ là củng cố thêm niềm tin của tôi rằng Phật giáo không phải là thứ mà tôi có thể hiểu. Tôi cũng không phải là một nhà thần học, tất nhiên, tôi chưa từng nghiên cứu sâu về các tôn giáo trên thế giới, nhưng cũng tới một mức độ mà khi tôi nhìn chúng thì tôi có thể hiểu chúng nói về điều gì. Cơ Đốc, Do Thái hay Hồi giáo đều là nhắm về việc làm cho Thượng Đế vui vẻ để rồi ngài cũng giữ cho chúng ta hạnh phúc. Ấn Độ giáo cũng tương tự, nhưng là với nhiều vị thần linh hơn. Nhưng cho dù là ở cấp độ siêu tối giản đó, Phật giáo cũng lẩn tránh khỏi tôi. Thẳng thắn mà nói, tôi nghĩ nó cũng lẩn tránh rất nhiều tín đồ tu tập nó nữa, và cuộc thảo luận với Andrew có vẻ sẽ xác thực điều này.

Anh ấy nói rằng anh ấy đang bị mắc kẹt tại một vài chỗ. Chúng tôi đã thảo luận một vài điểm đó và tôi sẽ chia sẻ ở đây vì nó hé lộ những bài học quan trọng cho bất cứ ai đang cố gắng đột phá tự do ra khỏi trói buộc của ảo tưởng (như là cách chúng ta vẫn hay nói trong trò chơi tìm giác ngộ.)

Andrew đã nói về quan niệm không chấp trước trong Phật giáo, không phải là anh ấy không hiểu nó mà là anh ấy đang gặp rắc rối trong việc cố gắng đạt được nó. Điều đó, rõ ràng dẫn tới một nghịch lý hiển nhiên rằng ham muốn đạt được trạng thái vô ham muốn cũng là một ham muốn, và đó là tự đuổi theo cái đuôi của mình. Thay vì kéo anh ấy ra khỏi chủ đề, tôi lại nhảy vào để xem phản hồi của anh ấy ra sao. Tôi không cần phải nói một cách khéo léo với Andrew như với một số người khác. Anh ấy có can đảm và trí tuệ để nhìn nhận khi mọi thứ được chỉ rõ ra.

“Có hai cách để nhìn vào tánh vô chấp trước. Một là trong bối cảnh của việc sống một cuộc sống êm đềm, hạnh phúc. Cách còn lại là trong bối cảnh của việc thức tỉnh khỏi ảo tưởng – Niết Bàn, tôi cho là như vậy. Phật giáo thường có mục tiêu là sự thanh thản, tự do thoát khỏi khổ đau, đại loại như vậy, tôi nói có đúng không?”

Andrew xác nhận rằng sống một cuộc sống hài lòng và trọn vẹn là thứ nằm ngay trung tâm cốt lõi của Phật giáo, nhưng nói thêm rằng giác ngộ – Niết Bàn, còn gần cốt lõi hơn nữa.

“Vậy thì anh sẽ vui mừng khi biết rằng anh có thể quên đi cái vấn đề không chấp trước đó.” Tôi nói. “Anh đang cầm đèn chạy trước ô tô. Không chấp trước không phải là chìa khóa tới giải thoát, nó là một sản phẩm phụ đi kèm.”

Chấp trước là một triệu chứng của một căn bệnh lớn hơn và thú vị hơn, căn bệnh kinh niên lây truyền trong tất cả những người tìm kiếm tâm linh chân thành. Thú vị hơn đối với tôi, bất chấp là vậy.

“Đây là một lỗi rất phổ thông được tìm thấy trong tất cả các giáo lý và tôn giáo trên thế giới,” Tôi nói tiếp. “Nó thường chệch ra khỏi sự thật 180 độ. Niềm tin rằng nếu bạn muốn trở nên giống Chúa Christ, bạn phải hành động giống Chúa Christ, như thể là cách để trở thành một thứ gì đó là chỉ cần bắt chước nó. Nếu bạn muốn trở thành một người giác ngộ, tư tưởng sẽ là, bạn nên hành động như một người giác ngộ. Hoàn toàn phi lý, tất nhiên, nhưng lại được chấp nhận rộng rãi. Khi mà bạn có khả năng nhận ra lối ngụy biện này, bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy rằng nó phổ biến tới mức nào. Để minh họa, bản thân tôi đây đã giác ngộ và tôi sở hữu tánh vô chấp trước một cách tự nhiên. Tôi biết nó là gì và tôi biết họ có ý gì khi nhắc tới nó bởi vì chính tôi sở hữu nó. Tôi không bám víu vào nó. Tôi không ươm mầm trồng lên nó. Thực tế là, tôi còn không suy nghĩ quá nhiều về nó cho tới khi phải trả lời những câu hỏi liên quan tới nó. Nó là một thứ tới trong hợp đồng – một sản phẩm phụ. Có rất nhiều sản phẩm phụ của giác ngộ, nhưng việc ươm trồng chúng, dù có sùng kính tới mức nào, cũng không hề thực sự dẫn tới giác ngộ. Nó rất dễ khi chỉ vào một người giác ngộ và nói rằng: ‘Này! Anh ta chỉ ăn cơm. Chúng ta cũng nên chỉ ăn cơm nếu chúng ta muốn đắc được giác ngộ!’ Nhưng, tất nhiên điều đó không đúng. Nếu một người giác ngộ nhảy xuống khỏi một cây cầu, anh cũng nhảy cầu theo sao?”

Andrew cười một cách lịch sự.

“Nếu một người giác ngộ nhảy xuống khỏi một cây cầu,” tôi lặp lại, “anh cũng nhảy cầu theo sao?”

Lần này thì anh ấy không cười nữa.

“Nó ở khắp mọi nơi,” Tôi tiếp tục nói. “Anh thấy điều đó mọi lúc. Tại sao khi một người quất roi vào má tôi mà tôi lại phải đưa ra bên má còn lại cho họ quất nữa, trong khi tôi lại muốn quất lại họ? Để hành động giống như Đức Chúa Christ sao? Từ khi nào mà tôi lại phải hành động giống như Đức Chúa Christ? Một vài thánh nhân vĩ đại của Ấn Độ luôn ngồi hướng về phương bắc, vậy tôi cũng phải lúc nào cũng ngồi hướng về phương bắc sao? Sẽ thế nào nếu như gã thánh nhân đó là một người thích ngoáy mũi? Tôi có phải ngồi hướng về phương bắc và ngoáy mũi tám lần một ngày không? Tại sao? Bởi vì nhiệm vụ của tôi là bắt chước những vị thánh vĩ đại? Tôi không nghĩ là vậy. Giả sử tôi đang no bụng còn anh thì đang đói gần chết. Anh tới gặp tôi và hỏi làm thế nào để được no bụng. Well, tôi để ý rằng, mỗi khi tôi ăn xong một bữa ngon thì tôi sẽ ợ hơi, vì thế tôi nói với anh rằng anh hãy ợ hơi vì điều đó sẽ chứng tỏ anh vừa ăn no. Hoàn toàn ngược lại, đúng không? Anh sẽ vẫn đói meo và còn ợ hơi ra như một con heo. Và điều tệ hại nhất của sự việc này là gì – hãy để tâm đến trò lừa này – điều tệ hại nhất là giờ đây anh đã ngừng tìm kiếm thức ăn. Và chắc chắn anh sẽ chết đói.”

Tôi để cho những lời đó chìm xuống trong một lát. Có những bài học quan trọng ở đây và tôi không muốn bứt tốc quá nhanh. Những câu hỏi nhỏ sẽ luôn là những cánh cổng tới những câu trả lời lớn hơn.

“Việc vô chấp trước cũng tương tự như vậy.” Tôi tiếp tục. “Nếu anh muốn tìm chìa khóa tới cuộc sống bình yên và hạnh phúc, thì tôi không thể tiếp tục thảo luận với bất cứ thẩm quyền nào, mà chỉ như là buôn chuyện tẻ nhạt. Tuy nhiên, nếu anh đang coi nó là một bước quan trọng trên con đường thức tỉnh thì tôi có thể đảm bảo với anh rằng nó không phải vậy. Thức tỉnh trước, rồi sau đó anh sẽ có một xe tải chứa tính vô chấp trước.”

Chúng tôi thảo luận về vô chấp trước thêm một chút, nhưng toàn bộ sự việc rất đơn giản và Andrew đã nói rằng anh ấy cảm thấy mình hiện tại đã hiểu một cách trực tiếp hơn rất nhiều. Tôi không hề nghi ngờ chuyện đó – cái phần nói về ợ hơi đó rất cảm hứng.

Phần tiếp theo mà tôi và Andrew thảo luận là về việc ở trong thế giới nhưng không thuộc về thế giới. Chuyện này không kéo dài bởi vì câu trả lời cho nó phần lớn cũng giống như việc vô chấp trước: “Đó không phải là thứ mà anh cần lo hiện tại,” tôi bảo anh ấy, “nó là thứ mà sẽ tự lo liệu cho nó một khi thời điểm tới. Cố hiểu nó cũng không có tác dụng gì.”

Anh ấy không dễ dàng từ bỏ như vậy, cho nên tôi nói tiếp.

“Từ quan điểm của tôi,” tôi nói với anh ấy, “những người không giác ngộ giống như những nhân vật trong một vở kịch xà phòng. Đó là những gì tôi thấy khi tôi quan sát những con người với tất cả những mối bận tâm và hy vọng, những xung đột và những drama của họ. Điều đó không có nghĩa là làm giảm sút đi trải nghiệm con người theo bất cứ cách nào, và bất cứ ai quan sát từ vị trí ngồi của tôi cũng sẽ đều nói như vậy, nhưng khi tôi nói kịch xà phòng, ý của tôi chính xác là như vậy. Một vở hư cấu đáng thương, cuồng loạn, thiếu thuyết phục, kịch bản nghèo nàn, và diễn xuất vụng về, và không có gì quan trọng nhưng có giá trị giải trí vô hạn. Tôi cũng từng là một người giống như những người khác, sống cuộc sống của mình như một nhân vật trong một vở kịch xà phòng mà không hề hay biết, nhưng tôi hiện tại thì không như vậy nữa. Bây giờ tôi đã thoát ra khỏi nó và tự do đến và đi. Nhưng tôi không thể nhầm lẫn kịch xà phòng với thực tại nữa, trừ khi bị chấn thương sọ não nghiêm trọng.”

“Và rồi tôi ở đây, ngay trên sân khấu lúc này, tại giây phút này, đang nói chuyện với một trong những nhân vật trong vở kịch xà phòng. Nhân vật riêng này có một cốt truyện xoay quanh việc đột phá tự do khỏi chính vở kịch. Nhân vật riêng này muốn biết liệu nó có sự tồn tại bên ngoài khuôn khổ kịch tính của vở kịch này không, hay có thể nó sẽ chẳng là gì hơn một nhân vật hai chiều mà sẽ ngừng tồn tại khi nhà biên kịch giết nó hay chương trình bị hủy bỏ. Liệu nhân vật này sẽ thành công hay thất bại trong công cuộc đánh đổi lấy tự do? Liệu anh ta có tiếp tục tìm kiếm hay sẽ thay đổi? Liệu nó có quan trọng không? Hãy đón xem vào ngày mai để biết.”

Andrew đang rất tĩnh lặng, rất đăm chiêu. Thật khôn ngoan, anh ấy đã không cảm thấy bị lăng mạ, không coi đó là một việc cá nhân của mình. Anh ấy đã lắng nghe, tiếp thu, nhưng không phản kháng hay phòng thủ. Tôi vừa mới cư xử hơi giống như một thằng khốn, tôi cho là vậy, giải thích quá lên, những sự ví von nho nhỏ được phóng đại lên, chỉ để giữ cho bản thân cảm thấy thích thú, tôi đoán là vậy, nhưng đó cũng là thử nghiệm những cách nói sự việc và cách nói quá sự việc.

“Vì vậy,” tôi tiếp tục, “anh, Andrew, vừa ở trong vở kịch, vừa thuộc về vở kịch. Anh muốn đột phá ra khỏi vở kịch xà phòng và ham muốn đó, như các diễn viên thường nói, giống như củ cà rốt treo lủng lẳng trước mũi, mang lại động lực cho anh, điều này lại cung cấp cho vở kịch những tập phim xô xát kịch tính đầy bi hài xoay quanh nhân vật Andrew.”

“Và rồi sau cùng cũng thành công?” anh ấy hỏi.

Tôi phẩy tay. “Ồ, chắc chắn rồi. Anh không thể cứ trốn tránh bản chất thực sự của mình mãi mãi được. Thực chất, việc mọi người trốn tránh như vậy đã là một điều kỳ diệu.”

Andrew cau mày. “Anh nói vậy giác ngộ nghe có vẻ như …”

“Như cái gì?”

“Well, giống như, không có gì. Không quan trọng. Giống như nó là…”

“Là thứ không liên quan đúng không?” tôi tiếp lời luôn. “Hãy tưởng tượng anh đang xem một vở kịch xà phòng trên TV nhưng anh có quyền năng tiến vào trong đó. Một phút trước anh vẫn còn xem một show truyền hình ngốc nghếch, một phút sau anh đang ở trong một phòng bệnh viện ghé thăm một nhân vật đang sắp chết vì ung thư não. Với anh ta thì nó là thực, anh ta đang tuyệt vọng đỉnh điểm, nhưng với anh thì anh ta chỉ là một diễn viên đang đóng vai của mình. Thực tế thì không có gì là thực. Thực sự thì anh có thể có bao nhiêu xúc cảm chân thật trước cảnh ngộ của anh ta?”

“Nhưng anh ta chỉ là một nhân vật hư cấu.”

Tôi đưa mắt nhìn sang nơi xa xôi và chờ đợi.

Tôi cũng chỉ là một nhân vật hư cấu,” anh ấy nói một cách thẳng thắn. “Tôi là nhân vật ung thư não đó. Và anh đã bước và vở kịch của tôi.”

Đây là một bài học hay – một bài học hài hước. Phép ví von thông thái, tôi có thể gọi nó thành vở Hamlet của nhà sản xuất Broadway thay cho kịch xà phòng, nhưng như thế lại có khuynh hướng giống như tôn vinh những vở hư cấu đó thay vì tầm thường hóa chúng. Sự ví von với kịch xà phòng đang là một thứ cô đọng lại hai trọng điểm mà tôi và Andrew đang chơi đùa; một là, Andrew là một nhân vật hư cấu, hai là, tất cả những thứ quan trọng đều là ảo tưởng. Nhưng có một điểm khác cần đề cập tới khi mà chúng tôi đã tới gần nhau.

“Và ai đã tạo ra nhân vật của anh?” Tôi hỏi anh ấy.

“Ý anh là, ai đã tạo ra cái người mà tôi đang là?”

“Ai là tác giả của anh?”

“Well, từ một mức độ nào đó, thì đó chính là tôi.” Andrew đáp.

“Okay, vậy ai là tác giả của cái tôi mà anh vừa nói, cái người mà là tác giả của anh từ một mức độ nào đó?”

Anh ấy suy nghĩ một chút về chuyện đó. “Chân ngã của tôi?”

“Nghịch lý. Không hề có chân ngã. Chân lý và cái ngã là hai thứ tự loại trừ lẫn nhau.”

“Cái này giống như tranh luận về vấn đề sự phát triển của ta do bản chất tự nhiên hay do môi trường giáo dưỡng.”

“Okay.”

“Vậy không thực sự có đáp án.”

“Chắc chắn có.”

“Vậy là gì?”

“Không phải là anh. Tác giả của anh không phải là anh.”

“Vậy tôi là… cái gì? Cái gì tạo ra tôi?”

“Tôi không biết. Điều đó có quan trọng không?”

“Well, rõ ràng…” anh ấy bắt đầu nói, rồi lại rơi vào im lặng.

“Chẳng có gì rõ ràng về nó cả,” tôi giải thích. “Không thể thấu hiểu sự mênh mông và phức tạp của những thứ tác động xây dựng nên cái ngụy ngã – một thuật ngữ dư thừa – nhưng đó không phải là một vấn đề vì việc thấu hiểu nó cũng không có một lợi ích gì. Tuy nhiên, một lợi ích, cái người mà anh thực sự là, có rất ít hoặc chẳng có gì liên quan tới anh. Có thể việc không coi bản thân mình là một cá nhân riêng là điều rất tưởng tượng, nhưng nó có thể thực hiện được nếu anh nhìn nhận rõ ràng rằng người mà anh thực sự là, có rất ít hoặc chẳng có gì liên quan tới anh.”

“Tôi ai cơ?”

“Nói hay lắm.”

Chúng tôi ngồi yên lặng một lúc. Mỗi người với những suy nghĩ của riêng mình. Tôi dành thời gian đánh giá lại độ hiệu quả của những câu từ mà mình đã dùng và có thể sẽ cải thiện hơn. Andrew, dễ hiểu được, đang dành thời gian để tìm nơi nương náu và sự ổn định trong những giáo lý đạo Phật của mình, tôi đã nhận ra điều đó khi mà anh ấy bất chợt hỏi một thứ khá không liên quan tới vấn đề chúng tôi đang thảo luận.

“Nhưng vậy còn sự khổ đau thì sao? Đức Phật đã từng nói…”

“Dừng.”

***

Nếu tôi cho phép các học sinh dẫn dắt cuộc hội thoại với những câu hỏi của họ, chúng tôi sẽ tiêu tốn hết tất cả thời gian của mình để đi tới tất cả mọi phương hướng có thể tưởng tượng ra được ngoại trừ hướng tiến về phía trước. Khá dễ hiểu khi những học sinh nghĩ rằng việc thấu hiểu là điều quan trọng. Họ nghĩ rằng những thông tin của họ phải là thứ đúng đắn và chính xác là việc thiết yếu. Họ nghĩ rằng chuyện này giống như ở trường học, khi mà bạn phải hiểu một thứ trước đó mới có thể hiểu được một thứ tiếp theo. Nhưng toàn bộ công việc này của chúng ta không phải là để biết một thứ gì đó, mà là gỡ bỏ những thứ ta đã biết. Toàn bộ những thứ được gọi là tri thức đó lại là thứ đứng giữa chắn đường giữa người tìm kiếm và thứ được tìm kiếm. Tôi hoàn toàn có thể hiểu được quan điểm của họ trong chuyện này, tuy nhiên tôi lại luôn kinh ngạc khi chứng kiến những người thầy khác trong lĩnh vực này lại để cho học sinh kéo họ lên đồi rồi xuống thung lũng với vô vàn những câu hỏi mà không làm tiến triển quá trình. Thức tỉnh không phải là một chủ đề học thuyết mà một người có thể thông thạo qua sự nghiên cứu và thấu hiểu, nó là một hành trình mà ta bước chân – một cuộc chiến mà ta đấu tranh. Những người thầy muốn được nổi tiếng và tỏ vẻ ra là thông thái, nên họ trả lời bất cứ câu hỏi nào mà người ta nghĩ ra để hỏi, như thể là họ đang dạy ra một thế hệ giáo viên khác chứ không phải đê giúp mọi người thức tỉnh.

Và, khi đã nói vậy, tôi cũng bị ép buộc phải nói rằng hành trình này – cuộc chiến này – vẫn chưa hề bắt đầu với Andrew. Rất nhiều năm thiền định và học tập tâm linh của anh ấy không thể thay đổi được sự thật rằng anh ấy chưa từng đi Bước Đầu Tiên trong hành trình của riêng mình. Bước Đầu Tiên là cái chính yếu. Tất cả mọi thứ tôi đang dạy thực sự đều là nhắm về nó. Hãy bước Bước Đầu Tiên rồi toàn bộ những thứ còn lại chắc chắn sẽ tự theo sau. Bạn có thể lang thang trên sân khấu đóng một vai tâm linh và bạn có thể thiền định và buông bỏ và trở nên vị tha và tích đức và giải nghiệp năm này qua năm khác, cuộc đời này sang cuộc đời khác, nhưng vẫn chưa hề bước Bước Đầu Tiên.

Nó đã thực sự tóm lược lại trạng thái thức tỉnh của phương Tây, nơi mà tâm linh là một sự cấy ghép văn hóa với rất nhiều bông hoa nở đẹp mê hồn nhưng không hề có một hệ thống gốc rễ được thành lập vững vàng. Trong cuốn sách Half way up Mountain: The Error of Premature Claims to Enlightenment (tạm dịch: ‘Lên núi nửa vời: Sự sai lầm của những tuyên bố sớm về giác ngộ’), nữ tác giả Mariana Caplan đã phải nói về khúc hát của mỹ nhân ngư về giác ngộ như sau:

“Ảo tưởng về giác ngộ phổ biến nhất, được chấp nhận rộng rãi nhất đó là tự do khỏi khổ đau, siêu thoát khỏi nỗi đau và sự vật lộn, tới vùng đất của sữa và mật ngọt, một trạng thái của tình yêu, phúc lạc, và bình yên vĩnh hằng. Giác ngộ đại diện cho giấc mơ của quần chúng về một thế giới lý tưởng và hoàn hảo của cái đẹp và niềm vui thuần khiết. Nó không chỉ là ảo tưởng của trường phái New Age, mà nó còn là ước muốn thầm kín của tất cả mọi người. Nó là giấc mơ chung về sự cứu rỗi của chúng ta. Nhưng nó chỉ là một ảo tưởng.”

Nói một cách ngắn gọn, giống như hầu hết những người tìm kiếm tâm linh khác, Andrew chưa bao giờ đăng ký tới giác ngộ một chút nào, mà là tới một ảo tưởng về một thứ gọi là thiên đường trên mặt đất, trong trường hợp này, gọi là Niết Bàn. Câu hỏi là, khi mà đã tỉnh ngộ khỏi cái ảo tưởng đó, sự nhiệt tâm của người tìm kiếm tâm linh có được tự động chuyển hóa tới thực tại? Nói cách khác, nếu bạn gọi một ly kem trộn trái cây với một quả cherry, nhưng người phục vụ lại đưa tới một cái que nhọn và chọc vào mắt bạn thì liệu bạn có thể vui vẻ được không?

Rất có thể là không.

***

Và giờ Andrew muốn quăng Đức Phật tới tôi, nhưng tôi không hề có chỗ để cho Phật dùng, và cả Andrew cũng thế, cho dù anh ấy không hề nhận ra điều đó.

“Khổ đau là thứ không liên quan,” tôi bảo anh ấy. “Lòng từ bi là thứ không liên quan. Ngay từ đầu mà nói, chẳng ai trong chúng ta có thể biết một chút nào về việc Đức Phật đã nói cái gì bởi vì ông ấy không hề ghi chép lại nó và làm công chứng. Và bởi vì ông ấy không hề có mặt ở đây để giải thích cho nên chúng ta phải tự dựa vào bản thân thôi.”

Andrew tròn mắt trước sự đối nghịch tôn giáo này. Tôi đã cảm giác rằng anh ấy đang nghĩ tới việc đứng dậy và rời đi.

“Này, đó là một tin tốt. Tôi đang nói rằng anh không cần phải dựa dẫm vào giáo lý được đề cao của một người đã chết hàng ngàn năm trước. Anh có thể tự dựa vào bản thân mình. Nếu hoàng tử Tất Đạt Đa đã tự mình làm được thì anh cũng có thể, đúng không? Phật cũng đã chỉ là một người nghiêm túc và tự mình ngộ ra, vậy có thể đó là giáo lý thực sự của ông ấy – đó là anh cũng có thể tự mình ngộ ra. Có thể cái điểm quan trọng không phải là ông ấy đã là một loại thần thánh hay siêu nhân, mà ông ấy hoàn toàn không phải vậy. Ông ấy cũng đã là một người thông thường như tôi và anh.”

Nội tâm Andrew có chút chao đảo, kích động.

“Với sự khổ đau,” tôi nói tiếp, “hãy quên nó đi. Nó không phải là vấn đề. Khổ đau có nghĩa là anh đang có một giấc mơ tệ. Hạnh phúc có nghĩa là anh đang có một giấc mơ đẹp. Giác ngộ nghĩa là thức tỉnh hoàn toàn khỏi giấc mơ. Những từ ngữ như khổ đau, hạnh phúc và từ bi chỉ là những túi đá. Sau cũng, anh sẽ phải buông chúng xuống nếu như anh muốn đi tiếp.”

Andrew ngồi bất động, sự hỗn loạn nội tâm thì rõ ràng. Không ai muốn những niềm tin mà mình trân trọng lại bị ngược đãi như vậy, nhưng ngược đãi những niềm tin là tên của trò chơi này. Chúng tôi ngồi yên lặng một vài phút chơ tới khi Andrew lại dẫn dắt về chủ đề cũ.

“Vậy chúng ta không thể ngộ ra Phật tánh của mình bằng cách hành động giống như Đức Phật?”

“Đạo nói rằng bậc thánh nhân bước đi trên thế gian mà không để lại dấu chân. Đó là một cách nói khác của việc ở trong thế giới nhưng không thuộc về thế giới. Đạo không hề nói rằng những người chưa giác ngộ mà muốn trở thành thánh nhân thì phải bước đi mà không để lại dấu vết trên mặt đất, nhưng liệu anh có thể tưởng tượng được rằng một giáo phái hậu đại của Đạo giáo lại đọc đoạn này thành chỉ thị rằng không được quấy nhiễu mặt đất hay bụi bặm? Không bao giờ được bẻ cong một gọng cỏ? Nó sẽ thật là lố bịch, nhưng không kém lố bịch hơn là mọi người đang làm rất nhiều chuyện chỉ để giả vờ rằng họ đã là thứ mà họ muốn trở thành. Chẳng có ích gì khi cứ cố gắng hành động giống như một người đã ở cái nơi mà anh muốn tới, mục tiêu phải là bản thân anh đi tới nơi đó. Hãy trở thành một vị thánh nhân trước rồi sau đó anh có thể tự do lựa chọn tất cả những đặc điểm của thành nhân một cách dễ dàng.”

Quan niệm sai lầm rằng bắt chước sự giác ngộ là một cách trở nên giác ngộ có thể thấy ở mọi nơi. Tư tưởng là – nếu bạn muốn trở thành một người giác ngộ, bạn phải hành động như một người giác ngộ. Nếu ma cà rồng thực sự tồn tại trên trái đất (và tôi không nói là họ không tồn tại), sẽ có những vị thầy, những lớp học cho bạn đăng ký nếu bạn muốn trở thành ma cà rồng, và tôi cho rằng, sẽ có một số người sẽ làm vậy. Nếu vị thầy là một ma cà rồng, anh ta có thể chỉ đơn giản cắn tất cả mọi người và truyền dịch hay là bất cứ cái gì và đùng một cái, tất cả họ là ma cà rồng. Nhưng nếu vị thầy chỉ là một người bình thường, bạn có thể thấy anh ta sẽ truyền tay cho học sinh những luật lệ riêng để tuân theo: Không ra ánh sáng mặt trời; Không được ăn tỏi hay uống nước thánh; không để cọc gỗ đâm vào tim; và vân vân. Và những người muốn thành ma cà rồng sẽ đứng xếp hàng và trả tiền để nghe những thứ đó. Rồi họ sẽ trở lại cuộc sống của mình để tuân theo chỉ dẫn của người thầy với hy vọng rằng, làm như vậy thì họ sẽ dần dần thành tựu chủng ma cà rồng.

Nhưng, như chúng ta biết, đó không phải là cách mà bạn trở thành ma cà rồng, đó là cách bạn trở thành kẻ kỳ dị. Việc vô chấp trước và ở trong thế giới nhưng không thuộc về thế giới cũng như vậy. Nếu bạn muốn vui vẻ và hành động như một ma cà rồng khiến bạn vui vẻ, thì tuyệt, đó hoàn toàn là thứ bạn nên làm. Nhưng, nếu bạn muốn trở thành ma cà rồng thì việc mặc đồ màu đen và niềng răng nanh ra ngoài sẽ không tạo ra phép màu đó.

***

Một điểm khác đáng để suy ngẫm mà Andrew đã khơi ra đó là sắc lệnh “Nếu bạn gặp Phật trên đường, hãy giết hắn.” Nó nghe có vẻ như đã là một đề tài tranh luận chưa có hồi kết giữa Andrew và những đồng tu Phật giáo của anh ấy.

“Hmmm,” Tôi nói, hưởng thụ lại những hồi ức ngây thơ. “Tôi cũng đã không biết nó có ý nghĩa gì khi lần đầu nghe nó.”

“Nhưng giờ anh đã biết?” Andrew hỏi. Tôi nghĩ rằng anh ấy tin rằng tuyên bố đó giống như một công án Thiền tông, thứ thực sự không dành cho trí tuệ có thể hiểu.

“Chắc chắn rồi.” Tôi đáp. “Nó có nghĩa giống như những câu chỉ đường như ‘Khi bạn đến đèn đỏ thứ hai, rẽ trái.'”

Andrew chỉ nhìn tôi chằm chằm.

“Nó là một câu chỉ đường,” Tôi tiếp tục. “Nó không phải là một viên ngọc minh triết vô giá gì như thắt dây an toàn hoặc đánh răng giữa bữa ăn. Nó chỉ là một lời khuyên đơn giản của một người đã từng đi tới một nơi chốn cụ thể để lại chỉ dẫn cho người đi sau.”

Andrew vẫn chưa hiểu, có thể bởi vì tôi đang tự làm trò tiêu khiển cho bản thân khi giả vờ làm một guru. Tôi thử cố diễn đạt một cách rõ ràng hơn.

“Trên con đường tới giác ngộ. Có một từ ma thuật. Nó là mantra của anh, nó là tiếng hét lâm trận của anh. Từ đó là xa hơn nữa (further). Rất quan trọng. Rất ý nghĩa. Hiện tại chúng ta chưa cần bận tâm tới sự quan trọng của nó, chỉ cần nhớ lời của tôi như vậy. Một ngày nào đó, có thể là trong đời sống này, anh sẽ bắt đầu quá trình thức tỉnh chân chính và một từ giống như ‘xa hơn nữa’ có thể giúp anh như một bùa hộ mệnh. Chẳng có lý do nào để đắm chìm tư tưởng vào trong câu hãy-giết-Phật đó, ngoại trừ việc để loại bỏ nó ra khỏi đầu anh. Ý tôi là, cố gắng hiểu nó lợi lộc gì cho anh cả, ngoài việc hiểu rằng không cần phải đắm chìm vào nó. Sẽ tới thời điểm mà anh tự mình hoàn toàn hiểu nó, và sau đó thì anh sẽ chẳng nghĩ tới nó lần nào nữa, giống như bất kỳ tấm biển chỉ dẫn đường đi nào trên một hành trình dài.”

Bất chấp lời từ chối đầy cẩn thận của tôi, Andrew vẫn ngồi băn khoăn tại sao mình nên giết Phật.

“Có những thời điểm trong quá trình thức tỉnh mà những người đi trước có thể giúp đỡ anh và đưa ra một manh mối cho bước tiếp theo của anh. Thực sự thì đó cũng là tất cả những gì mà một vị thầy hay một giáo lý có thể thực sự mang tới – một tấm bảng chỉ dẫn bất chợt. Nó có thể là một theo cách tổng quát chung, như từ ‘xa hơn nữa’, hoặc cũng có thể là theo một cách cụ thể chi tiết, như câu hãy-giết-Phật. Khi tôi trải qua hành trình này, tôi đã không có một người thầy hay guru nào, nhưng tôi đã có sự giúp đỡ của những người đi trước, những người đã chấp nhận rắc rối khi để lại những biển chỉ dẫn, cảnh báo và gợi ý dọc theo đường đi. Nhưng nhà thơ, triết gia, thánh hiền – những người nghiêm túc. Những người đã dành thời gian đặt lại những gì họ đã biết cho những người đi sau.”

Tôi tạm ngưng một phút. Không chắc rằng mình có thực sự muốn thảo luận tiếp về nó không. Tôi đoán là tôi có muốn.

“Trong hành trình này, có một điểm sẽ làm anh khá rối trí, đó là khi mà anh bắt kịp hoặc vượt lên trên một vài người hướng dẫn của anh – siêu việt khỏi những người anh kính ngưỡng nhất có thể. Tôi đã nhận thức sâu sắc về tình huống này trong một vài dịp, và nó là một trải nghiệm vừa kỳ lạ, vừa nản lòng, thêm nữa là nó khá là riêng biệt và không thể bị nhầm lẫn khi nó xảy ra. Để mà nói, thì họ là những người khổng lồ trong lĩnh vực của họ, và một sự thật đơn giản mà nghe kỳ lạ đó là tôi đã trở nên rất gần gũi với họ theo nghĩa chân thực nhất, khi tôi tới nơi mà họ đã dừng lại, tôi dừng lại cùng họ và bày tỏ sự tôn trọng sâu sắc nhất, rồi vượt lên trên họ với một trái tim nặng trĩu. Tôi không biết chuyện này nghe như thế nào với một người chưa từng trải nghiệm điều đó, nhưng đó là một phần khắc nghiệt trong chuyện này và chia sẻ với một ai đó về nó khiến tôi dễ chịu.”

Tôi nhớ là lúc đó Andrew có vẻ trầm tư. Tôi đã cẩn thận không nêu ra tên của những người hướng dẫn của tôi với Andrew. Người thầy của ta sẽ luôn ở đó khi ta cần họ, không cần thiết phải truy xét những người thầy của người khác.

“Hãy giết Phật là một trong những dấu hiệu được để lại bởi những người đi trước. Nó có một ứng dụng rất riêng. Nó có ý nghĩa tại một cầu nối riêng tại con đường mà ta đi, tôi nhớ là như vậy. Khi mà anh chưa tới được điểm cụ thể này thì nó chẳng có ý nghĩa gì cả. Và rồi tới lúc anh đến đó, và anh không rõ ràng rằng mình nên làm gì tiếp theo. Thực tế là, điều sai trái lại có vẻ là điều đúng đắn và cực kỳ hấp dẫn. Và rồi, như thể từ hư không, một cụm từ nhỏ vô lý đó bật ra trong đầu anh và trái tim anh phồng lên với niềm biết ơn không thể diễn tả được, và anh biết mình cần làm gì và mối họa của việc trượt lại xuống cơn mê được phòng ngừa.” Tôi đã cười trước sức mạnh của ký ức đó. “Đó là cuộc sống trên một con đường. Đó là một chuyến đi.”

Tôi đã dành chút thời gian với những hồi ức ngây thơ trước khi tóm lược lại cho Andrew. “Nó có nghĩa là xa hơn nữa. Tại chính xác một thời điểm trên hành trình, anh có thể dễ dàng ngồi xuống và nghĩ rằng mình xong rồi, nó có nghĩa rằng ‘Đứng lên! Anh chưa tới nơi đâu. Đừng bị đánh lừa. Đừng đa cảm. Đừng tự mãn. Hãy tiếp tục đi tiếp. Anh nghĩ rằng mình đã tới nhưng chưa tới đâu. Anh vẫn đang thấy hai trong khi chỉ có duy nhất một. Cái hình ảnh mà anh đang quỳ gối trước đó – bất kể họ là ai, hay bất kể là cái gì – cũng chỉ là sự phóng chiếu từ những thứ nhảm nhí của chính anh. Hãy giết cái thứ khốn kiếp đó và đi tiếp.’ Nó có nghĩa là như vậy đó.”

Tôi nhìn lại Andrew. Anh ấy nhìn chằm chằm lại tôi với sự kinh ngạc bất động.

Tôi có thể đánh giá cao điều đó. Nó là một điều tuyệt vời.

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.