ĐỐI THOẠI #31

H: Liệu sự tập trung vào các luân xa (chakra) có làm tâm trí tĩnh lặng không?

Đ: Các yogi có thể cố định tâm trí vào các trung tâm tâm linh như sahasrara [luân xa hoa sen ngàn cánh] trong một thời gian rất lâu mà không còn ý thức về thân thể nữa. Khi mà trạng thái này vẫn còn tiếp diễn, họ dường như đắm chìm trong một niềm vui nào đó. Nhưng khi
tâm trí yên tĩnh xuất hiện và trở nên náo động một lần nữa nó lại tiếp tục những suy nghĩ trần tục của nó. Do đó cần phải rèn luyện nó với sự trợ giúp của các phương pháp thực hành như dhyana [thiền] bất cứ khi nào tâm trí hướng ra bên ngoài. Sau đó, tâm trí sẽ đạt được trạng thái mà nó không chìm xuống cũng không khởi lên.

H: Có phải sự kiểm soát tâm trí do pranayama gây ra cũng chỉ là tạm thời?

Đ: Trạng thái tĩnh lặng chỉ kéo dài chừng nào hơi thở được kiểm soát. Nên nó chỉ là tạm thời. Mục tiêu rõ ràng không phải là pranayama. Nó mở rộng đến pratyahara [lắng đọng tâm trí], dharana [tập trung tâm trí], dhyana [thiền] và samadhi (định). Các giai đoạn đó liên quan đến việc kiểm soát tâm trí. Việc kiểm soát tâm trí như vậy trở nên dễ dàng hơn đối với một người đã từng thực hành pranayama. Pranayama do đó dẫn người ta đến các giai đoạn cao hơn. Bởi vì các giai đoạn cao hơn này liên quan đến việc kiểm soát tâm trí, người ta có thể nói rằng kiểm soát tâm trí là mục đích cuối cùng của yoga. Một người cấp tiến hơn sẽ tự nhiên trực tiếp kiểm soát tâm trí mà không cần lãng phí thời gian của mình trong việc thực hành kiểm soát hơi thở.

H: Pranayama có ba giai đoạn – thở ra, hít vào và ngưng lại. Chúng nên được quy định như thế nào?

Đ: Hoàn toàn từ bỏ thân phận đồng hóa với cơ thể là thở ra; hợp nhất bên trong thông qua câu hỏi “Ta là ai?” là hít vào, một mình an trú trong “Ta là Cái Đó” là sự ngưng lại. Đây mới là pranayama chân chính.

H: Tôi nghe nói trong Maha Yoga, khi bắt đầu thiền định người ta có thể chú tâm đến hơi thở, tức là lúc hít vào và thở ra của nó, và sau khi đạt được sự tĩnh lặng nhất định của tâm trí, một người có thể đi sâu vào Trái Tim để tìm kiếm cái nguồn của tâm trí. Tôi đã luôn khao khát một số chỉ dẫn thực tế như vậy. Tôi có thể làm theo phương pháp này không? Nó có đúng không?

Đ: Vấn đề là giết chết tâm trí bằng cách nào đó. Những người không có sức mạnh để làm theo phương pháp tự truy vấn được khuyên nên áp dụng pranayama như một sự trợ giúp để kiểm soát tâm trí. Pranayama này là gồm hai loại, kiểm soát và điều hòa hơi thở, hoặc đơn giản là quan sát hơi thở.

H: Để kiểm soát hơi thở, liệu tỷ lệ 1: 4: 2 cho việc hít vào, giữ lại hơi thở và thở ra có phải là tốt nhất?

Đ: Tất cả những tỷ lệ đó, đôi khi được quy định không phải bằng cách đếm mà bằng cách thốt ra các câu mantra, là những trợ giúp để kiểm soát tâm trí. Đó là tất cả. Quan sát hơi thở cũng là một hình thức của pranayama. Hít vào, giữ lại và thở ra có thể nguy hại trong một số trường hợp, ví dụ khi không có Guru thích hợp để hướng dẫn người tập ở mọi bước và giai đoạn. Nhưng việc chỉ quan sát hơi thở là điều dễ dàng và không thể có rủi ro.

H: Biểu lộ của sức mạnh kundalini chỉ có thể dành cho những ai theo con đường yoga theo đuổi quyền năng hay nó cũng có thể cho những người đi theo con đường của sự tận tâm [bhakti] và tình yêu [prema]?

Đ: Ai không có sức mạnh kundalini? Khi bản chất thực sự của shakti (quyền năng)được thấu biết, nó được gọi là akhandakara vritti [ý thức không bị gián đoạn] hay aham sphurana [sự thể hiện của cái `tôi ‘]. Quyền năng Kundalini ở đó cho tất cả mọi người dù họ đi theo con đường nào. Chỉ là nó có sự khác biệt về tên gọi.

H: Người ta nói rằng shakti tự biểu hiện trong năm giai đoạn, mười giai đoạn, một trăm giai đoạn và một nghìn giai đoạn. Cái nào đúng: năm hay mười hay một trăm hay một nghìn?

Đ: Shakti chỉ có một giai đoạn. Nếu nó được cho là tự biểu hiện trong nhiều giai đoạn, đó chỉ là một cách nói. Shakti chỉ là cái một.

H: Liệu một jnani có thể giúp không chỉ những người đi theo con đường của anh ấy mà còn những người khác theo con đường khác chẳng hạn như yoga?

Đ: Chắc chắn rồi. Anh ấy có thể giúp mọi người dù họ chọn con đường nào để đi theo. Nó là một cái gì đó giống như thế này. Giả sử có một ngọn đồi. Ở đó sẽ có nhiều con đường để leo lên nó. Nếu anh ta yêu cầu mọi người leo lên theo cách mà anh ấy đã đi, một số có thể thích và một số có thể không. Nếu cứ yêu cầu những người không thích phải leo theo con đường đó, họ sẽ không thể đi lên được. Do đó jnani giúp mọi người theo bất kỳ con đường cụ thể nào, bất kể nó có thể là gì. Những người leo giữa chừng có thể không biết về giá trị và ưu khuyết điểm của những con đường khác, nhưng một người đã leo lên đỉnh và ngồi đó quan sát những người khác đến có thể nhìn thấy tất cả các con đường. Do đó anh ấy sẽ có thể nói với họ di chuyển một chút sang bên này hoặc bên kia để tránh một cạm bẫy. Mục tiêu là như nhau với tất cả.

H: Làm thế nào người ta có thể hướng prana hoặc sinh lực vào sushumna nadi [một dây thần kinh tâm linh trong cột sống] để chitjadagranthi [sự đồng nhất của ý thức với cơ thể] có thể bị cắt đứt theo cách nói trong Sri Ramana Gita?

Đ: Bằng cách hỏi ta là ai? Người yogi chắc chắn nhắm tới khi kích hoạt kundalini và chuyển nó lên sushumna. Jnani có thể không coi nó là một mục tiêu của mình. Nhưng cả hai đều đạt được kết quả như nhau là gửi sinh lực lên sushumna và cắt đứt chit-jada-Granthi. Kundalini chỉ là một tên khác của atma hoặc Chân Ngã hoặc shakti. Chúng ta nói về nó như thể nó là bên trong cơ thể, bởi vì chúng ta quan niệm bản thân bị giới hạn bởi cơ thể này. Nhưng thực tế là cả hai mặt bên trong và bên ngoài, không khác với Chân Ngã hoặc shakti của Chân Ngã.

H: Làm thế nào để khuấy động nadi [thần kinh tâm linh] để kundalini có thể đi lên sushumna?

Đ: Mặc dù yogi có thể có các phương pháp kiểm soát hơi thở của mình để đạt tới mục tiêu này, phương pháp của jnani chỉ là truy vấn. Khi tâm trí được hợp nhất trong Chân Ngã bởi cái phương pháp này, shakti hoặc kundalini, thứ mà không nằm ngoài Chân Ngã, tự động khởi lên.


Các yogi coi trọng việc đẩy kundalini lên đến sahasrara, trung tâm não bộ hay hoa sen ngàn cánh. Họ chỉ ra các tuyên bố trong kinh sách rằng dòng chảy sự sống đi vào cơ thể thông qua thóp ở trên đầu và lập luận rằng, viyoga [sự tách biệt] đã hình thành như vậy, [sự hợp nhất] yoga cũng phải được thực hiện theo cách ngược lại. Do đó, họ nói, chúng ta phải tập yoga thu thập các prana và đẩy vào thóp cho sự viên mãn của yoga. Ngược lại, các jnani chỉ ra rằng các yogi đang giả định sự tồn tại của cơ thể và sự tách biệt của nó với Chân Ngã. Chỉ khi quan điểm về sự tách biệt này được chấp nhận thì hành giả mới có thể cố gắng để hợp nhất bằng cách thực hành yoga.

Trên thực tế, cơ thể nằm trong tâm trí và tâm trí lấy bộ não làm nơi tọa lạc của nó. Theo thuyết về thóp sự sống của các yogi, họ công nhận rằng bộ não hoạt động bởi ánh sáng vay mượn từ một nguồn khác. Jnani lập luận thêm: nếu ánh sáng được mượn thì nó phải đến từ cái nguồn tự nhiên. Hãy đi đến cái nguồn trực tiếp và không phụ thuộc vào những tài nguyên vay mượn. Cội nguồn đó là Trái Tim, là Chân Ngã. Chân Ngã không đến từ bất kỳ nơi nào khác và nhập vào cơ thể qua đỉnh đầu. Nó vẫn như là chính nó, mãi mãi lấp lánh, mãi mãi ổn định, bất di bất dịch và không thay đổi. Cái cá nhân tự giam mình trong những giới hạn của cơ thể luôn thay đổi hoặc của tâm trí mà nó tạo ra tồn tại từ cái Chân Ngã bất biến. Tất cả những gì cần thiết là buông bỏ thân phận sai lầm này, và khi điều đó được thực hiện, Chân Ngã mãi mãi tỏa sáng sẽ được xem là thực tại đơn nhất bất nhị.


Nếu một người tập trung vào sahasrara, chắc chắn sự ngây ngất của samadhi (nhập định) sẽ xuất hiện. Tuy nhiên vasana (các khuynh hướng của tâm trí) vẫn không bị tiêu diệt. Do đó, yogi buộc sẽ phải thức dậy khỏi samadhi bởi vì vẫn chưa có sự giải thoát hoàn toàn của các ràng buộc. Anh ta vẫn phải cố gắng tiêu diệt các vasana vốn có trong anh ta để chúng không còn quấy nhiễu sự bình yên đại định của anh ta. Vì vậy, anh ta đi xuống từ sahasrara đến Trái Tim thông qua cái được gọi là jivanadi, nó chỉ là sự tiến triển từ các sushumna. Vì vậy, sushumna là một đường cong. Nó bắt đầu từ luân xa thấp nhất, tăng qua tủy sống đến não và uốn cong xuống và kết thúc trong Trái Tim. Khi yogi đã đạt đến Trái Tim, samadhi trở nên vĩnh viễn. Do đó, chúng ta thấy rằng Trái Tim là trung tâm cuối cùng.

H: Thực hành yoga hatha được cho là có thể xua đuổi bệnh tật một cách hiệu quả và do đó nó được ủng hộ như là những bước đi sơ bộ cần thiết cho jnana yoga.

Đ: Hãy để những người ủng hộ nó sử dụng nó. Nó không phải là trải nghiệm ở đây. Tất cả bệnh tật sẽ được tiêu diệt một cách hiệu quả bằng cách liên tục tự truy vấn. Nếu bạn tiếp tục theo quan điểm rằng sức khỏe của cơ thể là cần thiết cho sức khỏe của tâm trí, việc quan tâm đến cơ thể sẽ không bao giờ kết thúc.


H: Liệu hatha yoga có cần thiết cho việc truy vấn về Chân Ngã không?

Đ: Mỗi người sẽ tìm ra một phương pháp nào đó phù hợp với bản thân, vì những khuynh hướng tiềm ẩn [purva samkara].

H: Có thể tập hatha yoga ở độ tuổi của tôi không?

Đ: Tại sao bạn nghĩ về tất cả những điều đó? Bởi vì bạn nghĩ rằng Chân Ngã là bên ngoài bản thân bạn và bạn mong muốn nó và nỗ lực vì nó. Nhưng bạn không phải vẫn luôn tồn tại sao? Tại sao bạn lại bỏ bản thân mình và chạy theo một thứ gì đó bên ngoài?

H: Người ta nói trong Aparoksha Anubhuti rằng hatha yoga là hỗ trợ cần thiết cho việc tìm hiểu về Chân Ngã.

Đ: Các yogi hatha tuyên bố rằng giữ cho cơ thể cân đối để sự truy vấn có thể được tiến hành mà không có trở ngại. Họ cũng nói rằng cuộc sống phải kéo dài để sự truy vấn có thể được kết thúc thành công. Hơn nữa, có những người sử dụng một số loại thuốc theo quan điểm và mục đích đó. Ví dụ yêu thích của họ là khung giấy phải hoàn hảo trước khi bức tranh được bắt đầu vẽ. Đúng, nhưng cái gì là khung giấy và bức tranh? Theo họ cơ thể là khung giấy và sự truy vấn về Chân Ngã là bức tranh. Nhưng chẳng phải cơ thể cũng chỉ là một hình họa trên khung giấy, chính là tự thân Chân Ngã sao?

H: Nhưng hatha yoga được nhắc đến nhiều như một biện pháp hỗ trợ.

Đ: Đúng. Ngay cả những học giả thành thạo thuyết vedanta vẫn tiếp tục thực hành nó. Nếu không tâm trí của họ sẽ không nguôi ngoai. Vì vậy, bạn có thể nói rằng nó hữu ích cho những người không cách nào khác làm tĩnh lặng tâm trí.

H: Các asana [tư thế hoặc cách ngồi] là gì? Chúng có cần thiết không?

Đ: Có nhiều asana với tác dụng của chúng được đề cập trong yoga sastras. Chỗ ngồi được làm bằng da hổ, cỏ, v.v. Các tư thế là tư thế ngồi kiết già, bán kiết già v.v. Tại sao cần tất cả những điều này chỉ để biết chính bản thân mình? Sự thật là từ Chân Ngã, cái tôi bản ngã trỗi dậy,
nhầm lẫn bản thân với cơ thể, lầm tưởng thế giới là thực, và sau đó, được bao phủ bởi sự tự phụ tự cao, nó suy nghĩ lung tung và tìm kiếm
các asana. Một người như vậy không hiểu rằng chính mình là trung tâm của tất cả và do đó tạo thành cơ sở cho tất cả.

Asana [chỗ ngồi] là ám chỉ để làm cho anh ta ngồi vững. Liệu anh ta có thể ngồi vững ở đâu và bằng cách nào ngoại trừ ở chính trạng thái thực của chính mình? Đó mới là asana chân chính.

Hãy nắm bắt tri thức một cách vững chắc rằng chỗ ngồi, nơi an tọa của toàn vũ trụ này chính là ở trên Chân Ngã, đó là không gian của tri thức đích thực, cái nền móng đặc biệt, chỉ có nó mới là asana vững chắc bất động cho samadhi siêu việt.

H: Bhagavan thường ngồi trong tư thế asana nào?

Đ: Trong asana nào sao? Trong asana của Trái Tim. Ở đâu mà nó dễ chịu, thì ở đó là asana của tôi. Đó được gọi là sukhasana, asana của niềm hạnh phúc. Asana của Trái Tim là bình yên và mang lại hạnh phúc. Không cần bất kỳ asana nào khác cho những người đã ngồi trong
cái đó.

H: Kinh Gita dường như nhấn mạnh đến yoga karma, vì Arjuna đã bị thuyết phục để chiến đấu. Sri Krishna đã nêu gương bằng sự tích cuộc đời của những người vĩ đại.

Đ: Gita bắt đầu bằng cách nói rằng bạn không phải là cơ thể và rằng bạn do đó không phải là karta [người làm].

H: Ý nghĩ của nó là gì?

Đ: Nó có nghĩa là một người nên hành động mà không nghĩ rằng chính mình là người làm. Các hành động sẽ diễn ra ngay cả trong trạng thái vô ngã. Mỗi người đến với sự tồn tại này đều dành cho một mục đích nhất định và mục đích đó sẽ được hoàn thành cho dù anh ta có coi mình là người làm hay không.

H: Yoga karma là gì? Nó là không dính mắc vào karma [hành động] hay hệ quả của hành động?

Đ: Yoga karma là yoga mà một người không kiêu ngạo đối với bản thân tự coi mình là người làm. Tất cả các hành động được tiếp diễn một cách tự động.

H: Nó không phải là không dính mắc vào hệ quả của các hành động sao?

Đ: Câu hỏi này chỉ nảy ra nếu có tồn tại người làm. Tất cả các kinh điển đều nhắc rằng bạn không nên coi mình là người làm.

H: Vì vậy, yoga karma là “ kartritva buddhi rahita karma ” – hành động mà không có ý niệm ta là người làm chủ hành vi.

Đ: Phải. Khá là chuẩn.

H: Kinh Gita dạy rằng một người nên có một cuộc sống năng động từ lúc bắt đầu tới lúc kết thúc.

Đ: Phải. Có hành động mà không có người làm hành động.

H: Nếu một người duy trì im lặng, làm thế nào để hành động có thể tiếp tục? Thế thì đâu có chỗ cho yoga karma?

Đ: Trước hết chúng ta hãy hiểu karma là gì, karma của ai và ai là người làm. Phân tích chúng và tìm hiểu sự thật của chúng, một người chỉ có nghĩa vụ giữ nguyên là Chân Ngã trong yên bình. Tuy nhiên, ngay cả trong trạng thái đó các hành động vẫn sẽ tiếp diễn.

H: Các hành động sẽ tiếp diễn như thế nào nếu như tôi không hành động?

Đ: Ai đặt câu hỏi này? Nó là Chân Ngã hay cái khác? Chân Ngã có quan tâm đến các hành động không?

H: Không, không phải Chân Ngã. Nó là cái khác, khác với Chân Ngã.

Đ: Vì vậy, rõ ràng là Chân Ngã không quan tâm đến các hành động và vì vậy câu hỏi không nảy sinh.

H: Tôi muốn tập yoga karma. Tôi có thể giúp đỡ người khác theo cách nào?

Đ: Có ai ở đó để bạn giúp đỡ? Ai là cái “tôi” mà sẽ đi giúp người khác? Đầu tiên hãy làm rõ điểm đó và sau đó mọi thứ sẽ tự giải quyết.

H: Điều đó có nghĩa là “giác ngộ Chân Ngã”. Liệu việc giác ngộ của tôi có giúp ích cho người khác không?

Đ: Có, và đó là trợ giúp tốt nhất mà bạn có thể làm cho người khác. Nhưng thực sự không có người nào khác để giúp đỡ. Đối với những người giác ngộ, họ chỉ nhìn thấy Chân Ngã, cũng như người thợ kim hoàn chỉ thấy vàng trong vô số kiểu trang sức bằng vàng khi muốn định giá nó. Khi bạn đồng hóa bản thân bạn với cơ thể, tên và hình tướng ở đó. Nhưng khi bạn vượt qua ý thức về cơ thể, những người khác cũng biến mất. Người đã giác ngộ nhìn thế giới không khác gì chính bản thân mình.

H: Những bậc thánh ở lẫn cùng với những người thường để giúp họ thì không phải sẽ tốt hơn sao?

Đ: Vốn không có người khác để ở lẫn cùng. Chân Ngã là thực tại duy nhất. Bậc thánh nhân giúp thế giới chỉ bằng cách là cái Ngã đích thực. Cách tốt nhất để một người phục vụ thế giới là đắc được trạng thái vô ngã. Nếu bạn lo lắng việc giúp đỡ thế giới, nhưng nghĩ rằng bạn không thể làm như vậy chỉ bởi đạt được trạng thái vô ngã, vậy thì hãy quy hàng trước Thượng Đế tất cả mọi vấn đề của thế giới cùng với những vấn đề của riêng bạn.

H: Vậy tôi không nên cố gắng giúp đỡ thế giới đang đau khổ sao?

Đ: Sức mạnh tạo ra bạn cũng là thứ tạo ra thế giới. Nếu nó có thể chăm sóc bạn, nó cũng có thể chăm sóc thế giới một cách tương tự. Nếu như Thượng Đế đã tạo ra thế giới, việc chăm sóc nó là việc của ông ấy, không phải của bạn.

H: Liệu ham muốn độc lập chính trị có là điều đúng đắn không?

Đ: Ham muốn như vậy chắc chắn bắt đầu từ tư lợi. Tuy nhiên, làm việc thực tế vì mục tiêu cá nhân sẽ dần dần mở rộng tầm nhìn để cá nhân trở nên hợp nhất trong quốc gia. Sự hợp nhất của các cá thể như vậy là có thể được phép ham muốn và karma liên quan là nishkama [không ích kỷ].

H: Nếu độc lập chính trị đạt được sau một cuộc đấu tranh lâu dài và những hy sinh khủng khiếp, cá nhân người ta có quyền vui sướng và phấn chấn phải không?

Đ: Anh ta phải quy hàng trong quá trình làm việc của mình trước thứ quyền năng cao hơn mà sức mạnh của nó phải được ghi nhớ và không bao giờ mất khỏi tầm nhìn. Sau đó làm thế nào anh ta mà có thể phấn chấn? Anh ta thậm chí không nên quan tâm đến kết quả của hành động của mình. Rồi karma sẽ trở thành hành động không ích kỷ.


Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *