13. Ta sẽ đắc được Chân Lý Tuyệt Đối.


Trang Chu mộng thấy mình là bướm
Thế là phấp phới bay, bướm mà
Tự mình thích chí lắm!
Không còn biết gì Chu
Bỗng nhiên rồi thức giấc
Thì lạ lùng chưa, lại là Chu
Không biết là Chu nằm mơ hóa bướm
Hay là bướm nằm mơ hóa Chu?

-Trang Tử-

Mùa đông năm nay không quá khắc nghiệt. Ban đầu thì khá lạnh và thiếu một chút bão tuyết, nhưng đó đã là không tệ so với một số mùa đông khác. Tháng hai, tháng ba và tháng tư có thể xám xịt và phiền muộn, và các dây thần kinh có thể căng thẳng một chút, nhưng năm nay thì hầu hết lại không đến nỗi như vậy. Hiện tại chúng tôi đang ở thời điểm mà bắt đầu hình thành một mùa xuân ẩm ướt.

Dù ẩm ướt hay khô ráo, mùa xuân vẫn luôn được chào đón ở đây. Nó làm tái sinh lại các sắc màu rực rỡ đã vắng mặt trong một thời gian dài. Bất chợt, sau những tháng của sắc nâu và xám dường như vô tận, nó xuất hiện như là đến từ đầu một cây đũa thần. Sắc màu bùng nổ ra từ mặt đất và từ cây cối và từ bầu trời, như thể là toàn bộ mọi thứ mới thức tỉnh đầy sôi động. Tại tháng tư, bạn chỉ có thể có một hoặc hai ngày đẹp trời mỗi tuần vì vậy không ai bỏ lỡ dịp đó để ra ngoài và làm vườn để chuẩn bị cho một mùa mới. Tôi là một linh hồn già cỗi, và nếu bạn để tâm xem xét theo cách đó, tôi cho rằng tôi sẽ phải ở ngoài vườn đó cắt tỉa hoặc chăm nom vườn nho hoặc hòa nhập sâu sắc với thiên nhiên, nhưng tôi không thực sự được lập trình cho điều đó. Đôi khi tôi sẽ cắt cỏ nếu tôi tìm thấy máy cắt, bình xăng đầy và một chút động lực, nhưng mà, bạn cũng có thể đoán được, ba hành tinh đó sẽ mấy khi thẳng hàng.

Tôi cũng không hoàn toàn ngồi lì một chỗ, đừng hiểu lầm. Tôi đi dạo thật xa và đạp xe đạp mỗi khi tôi có cơ hội. Tôi thường đi bộ một mình còn khi đạp xe đạp thì tôi thường rủ ai đó đi cùng. Nhưng không phải hôm nay. Tôi xếp chiếc xe đạp leo núi của mình lên xe bán tải và hướng về phía thị trấn kế bên, nơi mà tôi có thể tận hưởng cuốc xe đạp hai lăm tới ba mươi cây số xuyên qua khu lân cận và con đường mòn thiên nhiên và xung quanh trung tâm của khu đô thị thương mại. Tôi lái xe tới công viên ở rìa thị trấn và chuẩn bị để đạp xe. Khi tôi đang sẵn sàng để đi, một vận động viên xe đạp nghiêm túc với đầy đủ mũ bảo hiểm, găng tay, quần short, và giày loại kẹp vào bàn đạp vẫy tôi lại và bắt chuyện. Là một cô gái tóc vàng xinh xắn, nhỏ nhắn, gần như yếu ớt, và rất có thể là chưa tới mười tám tuổi.

“Chú là Jed, có phải không?” Cô ấy hỏi.

Chuyến đạp xe của tôi có một khởi đầu tệ hại. Đó là lý do tại sao tôi không xuống thị trấn quá nhiều. Có vẻ như tôi đã phát triển nên danh tiếng ở một mức độ thấp, chỉ vừa đủ để thỉnh thoảng tạo ra phiền phức, như lúc này. Tôi thừa nhận mình là Jed.

“Tuyệt, cháu nhận ra chú! Tên cháu là Jolene. Cháu đã tới vùng Jed Zone một vài lần. Cháu đã thấy chú ở đó.”

Tôi mỉm cười. Cô ấy vui vẻ. Việc bị nhận ra có vẻ như không làm phiền tôi nhiều trong thực tế so với lý thuyết, tôi đoán là thế. Cái vùng Jed Zone là thứ khiến tôi cười. Tôi đã từng nghe nó trước đây. Có một vài đồn đại về ngôi nhà của tôi trong thị trấn, và tôi chắc chắn rằng còn có những tin đồn mà tôi không hề hay biết. Tất nhiên, họ cần gọi nơi đó bằng một cái tên gì đó. Vùng Jed Zone khá đáng yêu.

“Tôi cũng nhớ là đã thấy cô,” tôi nói, “nhưng chúng ta chưa bao giờ nói chuyện, phải không?”

Tôi đang có hứng thú nói chuyện phiếm. Tôi có nhớ là đã thấy cô ấy ở ngôi nhà và trong ấn tượng của tôi là cô ấy khi đó không có đội mũ bảo hiểm, và tôi không cần phải hỏi xem chúng tôi đã từng nói chuyện hay chưa. Tôi biết chúng tôi chưa từng.

“Khônggg,” cô ấy nói, cười. “Cháu chỉ là, chú biết mà, chỉ là một đứa trẻ, thật đấy. Cháu không nghĩ là cháu có bất cứ thứ gì để nói mà có thể hấp dẫn với chú.”

Chiếc xe đạp của tôi được trang bị bình nước và một túi nhỏ với một bản sao của cuốn sách Fundamentals of Yoga của Rammurti S. Mishra giấu vào trong đó trong trường hợp mà tôi tìm thấy một cây bóng mát và nằm dài dưới đó. Tôi vẫn chưa leo lên xe đạp.

“Cháu đã làm gì ở ngôi nhà?” Tôi hỏi. Tôi không thể ép mình gọi đó là vùng Jed Zone được. “Cháu có tới cùng bạn bè?”

“Vâng,” cô ấy nói. Cô ấy bắt đầu liệt kê tên của một số người mà tôi chỉ nhận ra một người trong đó. Cô ấy giải thích rằng bọn họ đã tới đó vài lần tại mùa hè và mùa thu năm ngoái để làm công việc vườn ruộng, dọn dẹp và sơn lại khu nhà phụ, và cũng có một đêm đốt lửa trại.

“Well, điều đó đã khiến chú kiệt sức hết muốn nói chuyện phiếm,” tôi bảo cô ấy. “Cháu có muốn cùng đạp xe một lát không?”

Cô ấy muốn. Tôi dùng một số cớ vụng về như thường lệ với một gã đã gần bốn mười tuổi hay nói trước khi bước vào một hoạt động đòi hỏi thể chất với một vị thành niên được trang bị đầy đủ và rõ ràng rất thể thao. Chúng tôi khởi hành cùng nhau và điều chỉnh một tốc độ thoải mái cho một vòng quanh công viên trước khi phiêu lưu vào thị trấn và xa hơn.

Tôi cởi mở với việc đồng hành đi xe đạp hơn là đi bộ bởi vì khi đạp xe không dễ để trò chuyện, nhất là khi bạn đang cố giữ tốc độ hai mươi tới hai lăm cây số một giờ trong đoạn đường rừng hoặc khi trên xa lộ khi mà không có sự kiểm soát luật giao thông chặt chẽ.

Đó là một ngày đẹp trời và chuyên đi rất dễ chịu. Tôi có thể theo kịp với Jolene mà không cần căng thẳng quá mức hoặc có thể là cô ấy đang nhường tôi. Chúng tôi phi qua khu đất phân lô với những con đường trơn tru rồi tới những con đường lát đá dẫn ra khỏi thị trấn để đi vài cây số đường đồi, nó cho phép chúng tôi đạt được một tốc độ thú vị trước khi chui qua cổng vào khu rừng bảo tồn. Trong khu bảo tồn, chúng tôi chủ yếu giữ mình trên con đường lát đá, bởi vì xe đạp của Jolene không được chế tạo để đi trên những địa hình gồ ghề. Sau cùng, chúng tôi đi ra và tiến tới một ngọn đồi dốc đứng, nơi mà tôi chỉ có thể leo lên nửa đường rồi phải xuống xe đẩy lên. Cô ấy thì vẫn tiếp tục đạp xe nhưng theo kiểu tới rồi lui nhằm giữ cho mình ở gần cạnh tôi.

“Thể hiện à,” Tôi càu nhàu.

Cô ấy bật cười. Khi tới đỉnh đồi, tôi đạp một chân lên bàn đạp rồi trượt xuống dọc theo một khu vực picnic vắng bóng người đối diện một cái hồ nhỏ. Tôi lấy bình nước ra và uống trong khi dần khôi phục lại thể lực ban đầu. “Chú nghĩ là chú sẽ ngồi quanh đây vài phút và đọc sách,” tôi nói với cô ấy, đoán chừng là cô ấy sẽ coi đó là một lời gợi ý rằng cứ đi tiếp đi, nhưng một nửa hy vọng rằng cô ấy sẽ không.

“Cháu có thể ở cùng chú thêm một chút được không?” Cô ấy hỏi. “Cháu cũng có một cuốn sách. Cháu sẽ không làm phiền chú. Trước đây cháu chưa từng ở gần một nhà thần bí.”

Tôi cười thầm trước câu đó. “Được. Cháu có thể ở đây cùng nếu cháu thích, nhưng chú e rằng chú sẽ làm cháu thất vọng trong cái khoản thần bí đó. Chú không phải là một gã thần bí lắm đâu.”

Cô ấy không phản hồi với điều đó. Thay vào đó, cô ấy làm tôi bất ngờ khi giật lấy cuốn sách trên tay tôi và quẳng cho tôi cuốn của cô ấy. Tôi đoán rằng những cô gái trẻ xinh xắn có thể xấc xược và tán tỉnh kiểu vậy nhưng lần cuối cùng tôi là đối tượng của việc như vậy đã là rất lâu rồi. Ở ngôi nhà thì mọi người đều có một chút cung kính, và điều đó có thể trở nên tẻ nhạt.

Cuốn sách mà cô ấy ấn cho tôi là một trong những bộ sưu tập nhỏ về những cách ngôn Thiền tông được tổng hợp bởi một người biên tập mà rất có thể đang mắc kẹt trong một khoảng thời gian không hoạt động trong chu kỳ xuất bản Caulks of Borneo. Thực sự thì cũng khó mà đổ lỗi cho họ được. Nếu mà tôi sở hữu một nhà xuất bản, tôi cũng sẽ phát hành những cuốn sách nhỏ về Thiền tông nhanh nhất có thể theo tốc độ mà những người biên tập có thể tìm ra những lời bình chú hóm hỉnh mà nghe có vẻ sâu sắc bởi bất cứ một ai có tên hoặc một danh hiệu phương đông. Miễn là bìa sách được thiết kế gợi ra một sự đơn giản mà tao nhã, và toàn bộ nội dung bên trong là thứ không thể hiểu nổi, bạn chắc chắn sẽ có một cuốn sách thành công.

Cuốn sách này có thể còn dở hơn một cuốn sách ngắn gọn về Thiền tông, tất nhiên, thậm chí còn dở hơn cả một cuốn sách dở ngắn gọn về Thiền tông. Tôi không biết các cô gái thiếu niên điển hình thường hay đọc loại sách gì, nhưng tôi biết ơn vì cô gái này thay vì đó lại đọc về Thiền tông. Cô ấy đã yên vị ngồi trên bãi cỏ gần hồ và tôi tới ngồi cùng. Tôi lật nhanh qua cuốn sách của cô ấy đủ để xác nhận rằng nó đúng là một thứ tào lao (“Khi bạn đun nước nấu cơm, hãy nhớ rằng nước là cuộc sống của chính bạn.”) và không có gì hay hơn để làm, tôi bắt đầu đọc nó.

“Wow,” cô ấy tự thì thầm sau vài phút đọc. Tôi nhìn xem cô ấy có muốn chia sẻ với tôi thứ đã gây chú ý với cô ấy không, mặc dù tôi thực ra đã biết nó là gì. Trang sách đó đã được gấp đánh dấu, cuốn sách chỉ cần mở tự nhiên ra là tới trang đó, và đoạn văn đó được đánh dấu đóng khung nổi bật màu vàng. Cô ấy đọc thành lời đoạn văn đánh dấu được gán cho Đức Phật đó. Tôi biết nó rất rõ ràng, nhưng cảm thấy rất thoải mái khi nghe nó được đọc ra bởi một người mới biết đến nó lần đầu.

“Ta sẽ đắc được Chân Lý Tối Hậu và Thực Tại Tối Hậu,” cô ấy đọc một cách chậm rãi, và đầy suy tư. “Đó là mục tiêu tối hậu của đời sống của ta trong thế gian này. Cho dù thân này thịt nát xương tan hay vẫn còn tại với ta, ta sẽ đắc được Chân Tướng của Vũ Trụ. Thông qua vô lượng kiếp sống, ta mới có kết quả tốt, có được thân xác con người. Ta sẽ không đánh mất cơ hội ngàn vàng này và chắc chắn sẽ đắc được samadhi và Chân Tướng của Ý Thức. Thiên tai có thể đến và đi, ngọn núi của thể đổ sụp xuống đầu ta, nhưng ta sẽ không từ bỏ lời thề nguyện đắc được Niết Bàn.” Cô ấy đặt cuốn sách xuống và nhìn xa xăm ra hồ nước.

Tôi cũng thư giãn hòa vào sự tĩnh lặng bâng khuâng. Với tôi đoạn văn đó rất hoài niệm. Đó là lý do tôi đã lựa chọn mang cuốn sách đó. Quá trình viết cuốn sách này đã làm tôi phải nhìn lại hành trình thức tỉnh của chính mình, trong đó một lời thệ nguyện mục tới mục tiêu đã đóng một vai trò rất quan trọng. Tôi đã cộng hưởng với nó ngay từ lần đầu tiên tôi đọc từ rất nhiều năm trước, và tôi đã đọc lại nó thường xuyên. Nếu tôi muốn truyền lại nó cho học sinh ngày nay, rất có thể tôi sẽ phải cắt tỉa lại nó chút ít. Nhưng tôi sẽ vẫn phải giữ nguyên mức độ mãnh liệt của lời thệ đó. Đoạn văn đó đã định hình phần lớn cho những nỗ lực định nghĩa và tuyên bố mục tiêu của tôi thời điểm đó, và việc đồng hóa với một trò chơi tìm kiếm giác ngộ có sức nặng cực lớn cũng không đau đớn gì.

“Núi có thể sụp xuống đầu ta,” cô ấy tự thì thầm.

Sau một vài phút, cô ấy lại cầm cuốn sách lên và lật nhanh qua từng trang. “Chú có tập yoga không?” cô ấy hỏi.

“Không. Về cơ bản thì cuốn sách đó là một kỷ niệm xưa cũ trong cuộc sống của chú. Chú đã đọc qua rất nhiều sách lúc đó, nhưng chú cầm theo cuốn đó chỉ bởi vì cái đoạn mà cháu vừa mới đọc. Như cháu thấy đấy, nó là một cuốn sách ẩm mốc và rách nát. Nó nằm ở trong túi rất nhiều lần.

Cô ấy mỉm cười tán dương. “Tuy nhiên, chú không thích cuốn sách của cháu, đúng không?”

Cuộc đối thoại lại xoay chuyển. Đây là điều xảy ra. Liệu cô ấy đang hỏi tôi một câu hỏi hay chỉ là đang nói chuyện phiếm với ông chú Jed Thần Bí? Tôi không đặc biệt muốn trượt vào cái rãnh của một vị thầy trừ khi cô ấy yêu cầu tôi làm thế. Tôi không bao giờ cảm thấy thoải mái làm khi như vậy nếu như không có một dấu hiệu rõ ràng. Tôi sợ rằng mình sẽ trở nên giống một người mà khi bạn chỉ hỏi xã giao ‘Anh dạo này thế nào?’ và người ta thực sự dành một giờ tiếp theo để nói cho bạn.

“Chỉ là nó không phải thể loại mà chú thích,” tôi nói, cố lảng tránh.

“Chú không thích Thiền tông?”

Haizz. Tôi nằm ngửa ra sau với đôi tay đỡ lấy đầu, chú ý thấy một đám mây trông giống như Marilyn Monroe khi cơn gió đang thổi tốc váy của cô lên. Hoặc có thể đám mây đó là Rorstrach và sự hình dung của tôi đang cảnh báo tôi về sự ve vãn với những cô gái trẻ xinh đẹp trên bãi cỏ.

“Thật sự thì,” cô ấy nói. “Cháu có hứng thú với nó.”

Well, thực ra thì câu đó thôi cũng đủ để khiến tôi xoay người lại, nhưng tôi vẫn giữ mình.

“Có hai loại Thiền tông,” tôi nói. “Một loại Thiền tông bán sách và trưng bày những khu vườn cát và thư pháp và những tượng Phật nhỏ. Loại Thiền tông còn lại là nhắm tới giác ngộ.”

“Cuốn sách của cháu là loại dở hả?” cô ấy hỏi.

Tôi cười. “Ừ. Là loại dở.”

“Cháu chỉ mới học về Thiền tông vài tháng trước,” cô ấy giải thích. “Nó có vẻ rất hay ho. Cháu đã đọc một mớ sách về nó và tới dự một buổi gặp mặt, nơi có một ông người Nhật nói về nó. Chú có nghĩ rằng mọi cuốn sách cháu đọc đều tương tự cuốn này?”

“Nó còn tùy vào cháu học được cái gì từ chúng. Thiền tông có một lớp rỉ sét vô cùng hấp dẫn. Mọi người thấy việc đọc về Thiền tông rất hấp dẫn và có thể cũng thực hành tọa thiền. Cháu có đã mua tất cả các loại gối đặc biệt chưa?”

Cô ấy có.

“Còn gì nữa không?”

“Vườn cát nhỏ,” cô ấy thừa nhận với một nụ cười tự giác. “Một bức tượng Di Lặc, ông Phật cười.”

“Ừ, chú cũng thích ông ấy.” Tôi nói. “Vậy, điều đó là tốt. Cháu thích thú nó, thích đọc về nó và cháu có thể mua phụ kiện nữa. Chuyện đó chẳng có gì sai cả.”

“Nhưng nó không phải là Thiền tông chân chính, chú đang nói như vậy đó.”

“Không, nó không phải Thiền tông chân chính. Nó giống như là một cô em họ xinh đẹp của Thiền tông. Thiền tông thực sự thì không xinh và cháu không cần bất cứ cuốn sách nào cho nó.”

Nó đại khái là như vậy. Tôi không muốn tiếp cận tới sở thích mới của Jolene một cách quá nghiêm khắc, nhưng tôi thực sự có một mối quan hệ yêu/ghét với Thiền tông – đúng hơn là yêu Thiền tông và ghét Tân Thiền tông. Thiền tông là nhắm tới con đường ngột ngạt và chật chội tới giác ngộ – là khoảng cách ngắn nhất giữa say ngủ và thức tỉnh. Không luật lệ, không nghi lễ, không giáo lý, chỉ có cuộc chiến thức tỉnh đầy máu và bùn.

Tân Thiền tông – cái Thiền tông đang chèo lái một nền công nghiệp in ấn và thương mại – là nhắm tới việc say ngủ và giữ cho yên giấc. Tất nhiên, khi nói như vậy, tôi đang mạo hiểm gánh lấy cơn thịnh nộ của những người nhiệt tâm chói sáng đó, những người tin rằng Thiền tông là một thứ mà bạn đọc xong về nó và thực hành và rồi dần dần làm chủ; như thể là Thiền tông là một sở thích hoặc một tôn giáo hoặc một hoạt động xã hội; như thể Thiền tông là một thứ gì đó được thực hành theo kèm thêm vào một thứ gì đó khác; như thể Thiền tông là nhắm tới việc chú tâm hoặc vô tâm hoặc hiện hữu hoặc tĩnh lặng. Nhưng nếu họ thực sự quan tâm tới việc thức tỉnh, thì những người khoác da Thiền tông đang bị phật lòng đó cần phải cảm thấy biết ơn tiếng gọi thức tỉnh này. Bởi vì họ là những người muốn thực hiện hành trình nhưng đã bị lừa cho ngồi xuống bởi cô em họ xinh đẹp của Thiền tông.

Bài kiểm tra để quyết định luôn là như vậy: Có bao nhiêu người đã giác ngộ? Không có ‘nếu’, ‘và’ hay ‘nhưng’ gì ở đây. Không có một chút hứng thú nào tới mục tiêu khác hay ích lợi khác. Có đầu ra người giác ngộ ổn định không? Cái Thiền tông xấu xí thì có còn Thiền tông xinh đẹp thì không- chấm hết.

“Vậy, nó giống như một người em song sinh tà ác của Thiền tông?”

Tôi bật cười trước câu đó. “Ừ. Người em song sinh tà ác đập đầu người anh và trục xuất anh ta ra một hòn đảo xa vời, và sau đó người em tà ác bán mình lấy tiền tài và danh vọng và chiếm đoạt thế giới.”

Chúng tôi chơi đùa vu vơ với bối cảnh đó một vài phút, càng ngày càng kéo dàu nó ra xa hơn, chỉ là tận hưởng khoảnh khắc dễ chịu này và sự ấm áp của mặt trời.

“Mọi người đều biết chú là một nhà thần bí,” Jolene nói, chuyển hướng sang tôi “Tại sao chú lại nói là không phải?”

Tôi than thở trong khi ngồi dậy và vòng tay quanh đầu gối.

“Hmmm. Okay, chú sẽ trả lời nếu cháu nói cho chú biết cháu thích điều gì ở Thiền tông.”

“Okay,” cô ấy nói một cách hứng khởi. “Vâng, khi ông Yamamata ở đây, ông ấy đã nói …”

Tôi ngắt lời, “Ông Yamamata hay là Đại Sư Yamamata ?”

“Vâng, là Đại Sư Yamamata. Ông ấy đã nói về sự chú tâm nhất điểm và cuộc sống trong Thiền viện và tất cả những thứ nghe rất là thú vị. Ông ấy kể rất nhiều câu chuyện về những người thực hành Thiền tông và rồi bất chợt Bam!, họ đã giác ngộ. Có thể ai đó sẽ nói rằng đó sẽ là khi một chuyện cực kỳ chính xác xảy ra tại một thời điểm chính xác và…”

“Bam.”

“Vâng.”

“Khá là ngầu, hở?”

“Đúng đó!” Và giờ cô ấy đang ngồi trên tư thế quỳ, rất hào hứng. “Ông ấy đã kể về lịch sử của Thiền tông và những thứ khác, và ông ấy cho chúng cháu xem một video giới thiệu về Thiền viện của ông ở Bắc Carolina và tất cả đều có vẻ như, cháu không biết nữa, thực sự là thú vị!”

“Vậy nên cháu bắt đầu đọc sách về nó và mua sắm trực tuyến?”

“Cháu đã mua một cuốn sách từ những người tài trợ cho chuyến ghé thăm của ông ấy. Và vâng, cháu có lên mạng và đặt mua một vài loại gối và những cuốn sách khác. Vườn cát thì cháu mua tại một cửa hàng ở thành phố Iowa, và một vài cuốn sách cũ về Thiền tông và Phật giáo nữa,”

“Ông ta có nói rằng giác ngộ là gì không?” Tôi hỏi.

Cô ấy nghĩ về điều đó trong một phút. “Ông ấy có nói về samadhi, hay nó là satori (nd: đốn ngộ)? Chú đang nghĩ cháu thật ngốc, đúng không?”

Tôi cười. “Không. Chú cũng thích Thiền tông. Chú cũng đã thích nó thật lâu trước khi chú hiểu được nó, cũng khá giống như cháu bây giờ.”

“Đến lượt của chú!” cô ấy nói.

Tôi nhớ lại giao kèo của chúng tôi. “Okay, nhưng có thể cháu sẽ cảm thấy không quá thú vị. Chú nói rằng chú không phải là một nhà thần bí vì chú không phải là một người như vậy – hoặc có thể chú chỉ ở mức hơi thần bí. Nó thực sự là một vấn đề khá dễ lẫn lộn, nhưng thực sự chú là kiểu khác biệt với thần bí.”

“Chú là cái gì?”

“Ờ, chú đã giác ngộ.”

“Và điều đó không giống với thần bí?”

“Không. Chúng nghe có vẻ như là một thứ nhưng một khi cháu đạt tới nó cháu sẽ nhận ra có sự khác biệt lớn.”

“Cái nào tốt hơn? Giác ngộ, đúng không?”

“Ồ, đúng vậy, hoàn toàn luôn. Những gã thần bí cùi bắp. Những gã giác ngộ mới thống trị!”

Cô ấy cười và đẩy tôi. Tôi cũng cười. “Không, cháu hỏi thật đấy,” cô ấy nói, “sự khác nhau là gì?”

“Không, chú nói thật đấy,” tôi bắt chước cô ấy. “Nó không thú vị như cháu tưởng đâu.”

Cô ấy lại ngồi yên vị xuống và nhìn thẳng mắt tôi. “Cháu có thể nói gì đó được không? Làm ơn? Cháu không biết làm thế nào mà cháu lại quá may mắn, rằng chỉ một vài tháng sau khi cháu bắt đầu, chú biết đấy, có hứng thú với Thiền tông và tâm linh và mọi thứ, tất cả chỉ sau một buổi chiều hôm đó với…” cô ấy bắt đầu ngập ngừng một chút. “Giống như là Thượng Đế hay vũ trụ hay cái ngã cao hơn của cháu hay bất cứ thứ gì như vậy đang nói rằng cháu đang làm một điều thực sự tốt. Nó đang nói rằng ‘Này, con đang muốn biết, vậy thì có người này ở đây, cơ hội của con ở đây.’ Vậy nên cháu đang ngồi đây với chú và chú rất tử tế và mọi thứ cũng tốt đẹp, nhưng mà chú rất có thể cũng là …. chuyện này thật lạ … nghiêm túc đấy, chú…chú cũng là thứ mà tất cả mọi người….”

Cô ấy đang run rẩy và sắp sửa khóc.

“Chú thật sự chân chính giác ngộ, có đúng vậy không? Không đùa cợt. Ý cháu là, cháu biết chú đúng là thế. Chú thực sự đúng là thế, có phải không?”

Tôi rất hiếm khi bị kinh ngạc. Tôi cân nhắc lời cô ấy một cách cẩn thận trước khi phản hồi.

“Đúng, Jolene,” tôi nói, “chú đúng là như vậy.”

Cô ấy gật đầu – tiếp thu, vận hành. “Vâng…vâng…đã hiểu ý cháu chưa. Ý cháu là vậy. Ý cháu là, tỉ lệ là bao nhiêu?”

Tôi ngắm nhìn cô ấy một lúc, ngưỡng mộ sự chân thành sâu sắc trong đôi mắt của cô ấy.

“Okay,” tôi nói, “chú hiểu rồi.”

“Vậy câu chuyện là, chú biết đấy, cháu biết là cháu còn trẻ và chưa thể hiểu được và chú thì đang rất là ngầu đối với cháu, nhưng cháu thực sự muốn biết. Cháu rất quan tâm. Cháu không muốn giống như những người khác… Giống như Đức Phật đã nói, ‘ta sẽ không đánh mất cơ hội ngàn vàng này,'” Cô ấy chợt yên tĩnh, hàm dưới của cô ây đang run lên và đôi mắt đã ẩm ướt.

Và rồi chúng tôi ngồi đó trong một vài giờ tiếp theo với tôi trả lời câu hỏi của cô ấy về sự khác nhau giữa giác ngộ và muôn vàn sắc thái của thần bí học, về sự khác biệt giữa Thiền tông chân chính và Thiền-tông-bán-sách, về Ấn Độ giáo và thiền định và về Cơ Đốc giáo với người Mỹ da đỏ bản địa và những người Mỹ theo chủ nghĩa siêu việt, về việc diễn viên Brad Pitt có thể thành công hơn được nữa không, và tất cả những thứ cao cả đó.

Nhưng phần lớn là chúng tôi đã nói về thuyết rạp chiếu phim của Plato.

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *