Bất hòa nhận thức

Trước đây tôi tự hỏi, tại sao hầu hết mọi người đều nhất trí tán đồng với những lời dạy của Phật về sinh lão bệnh tử, về cuộc sống vô thường,…, họ đều gật gù công nhận, họ đều cho rằng họ đã hiểu điều đó, nhưng lại có rất ít người thực sự buông bỏ chấp trước để đi tu? Nhưng ngẫm sâu hơn thì chúng ta có thể thấy rằng đây là sự bất hòa nhận thức của con người, một hiện tượng rất phổ biến mà hầu như ai cũng có. Đó là khi con người ôm trong mình hai tư tưởng, hai niềm tin hoàn toàn trái ngược và mâu thuẫn với nhau. Nếu xử lý theo lý trí, thì con người sẽ phân tích ra niềm tin nào đúng hơn và bỏ niềm tin sai đi, như thế sẽ không còn bất hòa. Nhưng hầu hết mọi người đều không đủ tỉnh táo hoặc đủ quyết tâm để làm điều đó (vì đó thường là một lựa chọn khó khăn, đau khổ.) Họ thường lựa chọn phớt lờ sự bất hòa đó hoặc bổ sung vào một niềm tin thứ ba nhằm vô hiệu hóa hoặc giảm nhẹ sự bất hòa. Tôi có thể tự nhìn ra điều đó ở bản thân tôi. Trước đây tôi rất thích uống nước ngọt, dù nghe rằng khoa học nói nước ngọt không tốt cho sức khỏe, tôi cũng tin và e sợ. Nhưng tôi lại đọc một bài báo nói rằng có cụ già ngày nào cũng uống vài lon bò húc nhưng vẫn sống tới một trăm tuổi. Thế là tôi vin vào điều đó để bổ sung một niềm tin khác: các nghiên cứu của khoa học có thể không hoàn toàn đúng với tất cả mọi người, luôn có ngoại lệ và tôi có thể là ngoại lệ khác. Vì thế tôi đã vẫn tiếp tục uống nước ngọt. Điều tương tự cũng xảy ra với những người hút thuốc lá, nghiện game, thức khuya,…Họ đều tin rằng những điều đó không tốt nhưng bằng cách nào đó họ đều tìm ra các niềm tin khác bổ sung vào để dung hòa mâu thuẫn tư tưởng ví dụ: hút thuốc, chơi game làm giảm stress, nhiều người hút thuốc chơi game mà vẫn thành công, khỏe mạnh,…Muôn vàn lý do. Hoặc là đơn giản hơn dùng niềm tin kinh điển, chí mạng này để hóa giải gần như mọi bất hòa: “cuộc sống là vô thường, nay sống mai chết lúc nào không biết, tại sao phải lo lắng, cứ hưởng thụ đi rồi tính sau. (YOLO)” Niềm tin này là tấm vương bài giúp họ tự cho phép mình hưởng thụ xả láng mà không phải lo nghĩ hậu quả. Họ nghĩ là họ HIỂU sự vô thường. Nhưng thực ra là không. Họ chỉ dùng giáo lý về vô thường như một công cụ để hóa giải sự bất hòa nhận thức mà thôi. Nó hóa giải những bất hòa nhỏ nhưng lại đưa tới một bất hòa lớn hơn: Nếu bạn tin vào sự vô thường, vậy tại sao bạn vẫn tham luyến những thứ giả tạm đó, tại sao không tu hành tìm cách giải thoát khỏi sự vô thường đi? Giống như một người ở trong ngôi nhà cháy, đã biết nhà đang cháy, nhưng không làm gì, vẫn tiếp tục chơi game, hút thuốc? Họ lại tìm cách lấp đi sự bất hòa lớn này bằng cách bổ sung một niềm tin rằng: tôi không sợ chết, chết thì chết, tôi chết cũng không có gì hối tiếc. Nhưng niềm tin này nó quá giả dối, họ thực sự vẫn rất sợ chết, thậm chí sợ mất mát, mất tiền, mất người thân, mất sức khỏe,..Họ sợ tất cả những thứ đó đến mức không dám nghĩ về điều đó, không dám bàn về điều đó. Họ sẽ sử dụng chiến lược cuối cùng đó là phớt lờ, phớt lờ mọi sự sợ hãi, sự bất hòa, tìm cách đắm mình trầm luân đầu óc vào muôn vàn thứ khác, để tiêu hao hết thời gian và năng lượng, không còn chỗ trống nào để tâm trí suy nghĩ tới những câu hỏi lớn.

Ngẫm lại, người đời tôn kính Đức Phật cũng giống như một người nghiện thuốc tôn kính bác sĩ: Bác nói rất đúng, hút thuốc có hại, nhưng tôi sẽ không bỏ thuốc, tôi nghĩ là tôi sẽ vẫn ổn vì tôi đặc biệt hơn người khác. Tôi sẽ tập thể dục, ăn uống điều độ hơn để bù vào. Tôi sẽ không bỏ tham sân si để tu hành nghiêm túc, tôi sẽ vẫn tham luyến cái giả tạm, thi thoảng tôi sẽ đi chùa tụng kinh, cúng dường, ăn chay để bù đắp. Chỉ khi đến khi tôi thật sự đổ bệnh tôi mới chạy đi cầu xin bác cứu chữa. Chỉ khi con người thực sự đối diện với bệnh tật, mất mát đau thương, cái chết cận kề, họ mới chạy đi quỳ lạy Đức Phật, bỗng nhiên trở thành tín đồ chân thành nhất. Lúc đó họ mới thực sự thấu hiểu cái gọi là vô thường. Thật trớ trêu.

Sự vô thường không thể hiểu trên lý thuyết, cần phải có trải nghiệm nhất định về nó thì ta mới thấm. Nhưng cũng không cần thiết phải hoàn toàn bị nó đả kích tới mức nặng nề mới hiểu. Giống như ta chỉ cần chạm tay vào lửa là hiểu bản chất đáng sợ của nó chứ không nhất thiết phải nhảy cả người vào lửa. Người có ngộ tính cao, chỉ cần ngửi thấy mùi khói hoặc cảm thấy hơi nóng từ xa đã nhận thức được sự đáng sợ của lửa. Giống như Đức Phật, chỉ cần nhìn thấy người khác sinh lão bệnh tử đã đem lòng quyết tâm tu giải thoát. Chúng ta đừng để đến lúc lửa đốt tới thân mới tìm cách thoát, lúc đó nỗi sợ hãi đã bao trùm và che phủ tâm trí của bạn, nào còn chỗ trống và thời gian để suy ngẫm nữa, lúc đó thường sẽ chỉ là chạy loạn cầu may mà thôi.

Ký ức mờ dần

Gần đây tôi có đi thăm bà nội tôi. Trí nhớ của bà đã rất kém, 5 phút trước vừa hỏi tôi một câu, 5 phút sau lại hỏi lại, vừa ăn cơm rồi lại nói chưa ăn. Ký ức của chúng ta cũng giống như toàn bộ những thứ khác, vô thường, nó đến và đi, nó biến hóa và thay đổi, nó sinh ra và hủy diệt. Chưa già, nhưng ký ức của tôi cũng đang dần mơ hồ. Nếu tôi nhớ không lầm thì tôi đã bắt đầu viết bài được hơn mười năm rồi, nhưng khi tôi xem lại những bài viết cũ của mình, thậm chí những bài từ vài tháng trước thôi, tôi cũng cảm thấy chúng thật xa lạ. Đây có thật là do tôi viết không, nguồn cảm hứng nào, hay tôi đã dựa vào đâu để viết ra những lời này? Các nhà khoa học nói rằng, ký ức của chúng ta là hữu hạn nên bộ não sẽ không muốn ghi nhớ những thứ vô nghĩa, không quan trọng để tránh quá tải. Hằng ngày chúng ta ghi nhận hàng tỉ thông tin qua các giác quan nhưng những được ghi vào ký ức thật sự rất ít vì có rất ít thứ là thật sự quan trọng. Có lẽ tôi đã coi tất cả mọi thứ không còn ý nghĩa, không còn quan trọng nữa, thậm trí ngay cả ký ức cũng không còn quan trọng, vì thế nó cứ nhạt nhòa dần. Giống như khi ta vừa thức tỉnh khỏi một giấc mơ, ký ức từ một giấc mơ phần lớn là vô nghĩa, vì thế não bộ nhanh chóng quên đi.

Trong thực tế, chúng ta cần ký ức để tự định nghĩa bản thân, để tự biết mình là ai, mình đang ở đâu và cần phải làm gì, dùng ký ức để phóng chiếu, dự kiến tương lai,…Tôi hầu như không còn những nhu cầu đó. Chúng vẫn còn ở đó, nhưng rất ít, chỉ vừa đủ để biết hôm nay hay ngày mai sẽ làm gì. Những ký ức về quá khứ của tôi đối với tôi chỉ giống như một câu chuyện của một ai đó, một người khác, tôi không dùng nó để định nghĩa bản thân. Ký ức không phải là thứ tôi dựa vào, thực tế là trên thế gian vô thường này không có bất cứ thứ gì vững chắc bất biến để ta có thể dựa vào. Ngay cả trí tuệ này, tôi đã sử dụng nó nghiền ngẫm, để rút ra nhiều kết luận kinh người, làm chính bản thân tôi cũng phải giật mình, nó cũng là vô thường, ngày nào đó khi tôi già nua, nó cũng u mờ, tăm tối, bệnh hoạn, thậm chí còn không đủ sức suy nghĩ về việc ngày mai ăn gì. Lúc đó, tôi sẽ không còn là “tôi”. Tôi lấy cái gì để dựa vào, để nương tựa đây?

Bất giác tôi lại nhớ tới một câu nói của Đức Phật: “Trong bốn mươi chín năm qua, ta chưa hề nói một lời nào.” Tại sao sau bao nhiêu năm giảng pháp, đến cuối đời Đức Phật lại nói một câu làm khó hiểu thế nhân như vậy? Rất nhiều người đã diễn giải lời này của Đức Phật theo cách hoa mỹ, (pháp không thể nói bằng lời, chân lý vô ngôn,…) Hiện tại tôi mới bắt đầu có sự đồng cảm với lời này, khi đọc lại chính những bài viết cũ của bản thân, tôi chẳng thể tin được nó là do tôi viết ra, hoặc đó là do tôi trong quá khứ không phải là tôi trong hiện tại, thậm chí cái tôi đó không liên quan gì đến tôi trong hiện tại, cái tôi trong khoảnh khắc trước không phải tôi trong khoảnh khắc này. Thời Đức Phật tại thế, người ta không hề ghi chép lại lời Phật, mà hoàn toàn dựa vào ký ức để ghi nhớ. Đức Phật nói câu đó là sự phủ định hoàn toàn tính chân thực của ký ức và ngôn từ, chúng ta không thể dựa dẫm vào ký ức và ngôn từ.

Vậy tại sao tôi vẫn viết? Đơn giản là vì tôi có cảm giác muốn viết. Như Jed McKenna nói:lời nói của tôi sẽ được tiếp thu như nào hoặc nó sẽ trở thành cái gì ngay khi rời khỏi môi tôi nằm ngoài khả năng kiểm soát của tôi. Tôi chỉ nói, đó là tất cả.(…) “Hành động nhưng không nghĩ tới kết quả của hành động”. Krishna đã nói với Arjuna như vậy. Tính thêm cả tôi nữa.

Hai khuynh hướng

“Bản năng sống” (Eros) và “Bản năng chết” (Thanatos) là hai khái niệm nổi tiếng trong lý luận phân tâm học của Sigmund Freud. Tôi thích gọi chúng là “khuynh hướng” hơn là bản năng. Một khuynh hướng là hướng về sự sinh tồn, sinh sản, khoái lạc, sáng tạo…, khuynh hướng kia là hướng về hủy diệt, chết chóc, tự hủy,…Chúng ta đều sống giữa hai khuynh hướng này. Khuynh hướng sống thì chúng ta có thể dễ dàng lý giải, ai chẳng thích sống, thích hưởng lạc, thích thoải mái sung sướng. Còn khuynh hướng chết thì sao? Có phải là do chúng ta sống quá khổ nên muốn chết, muốn được giải thoát? Không đơn giản là vậy. Một người hoàn toàn sống hạnh phúc yên ổn cũng có thể có khuynh hướng chết. Biểu hiện rõ ràng nhất là nhiều khi chúng ta cầm một con dao sắc bén, trong đầu bỗng nãy ra tư tưởng muốn tự đâm nó vào người, đứng trước một bờ vực hay nhà cao tầng, não tự nhiên có thôi thúc muốn nhảy xuống, đi ngang qua một chiếc xe tải lớn, có thể xung động muốn lao vào cho xe đâm. Khuynh hướng sống là muốn thành công, muốn có địa vị trong xã hội này, muốn được thể hiện và được toàn bộ mọi người công nhận. Khuynh hướng chết là muốn tránh đi tất cả mọi thứ xã giao, không muốn gặp ai, muốn biến mất.

Ngẫm lại, tại sao trong chúng ta lại có hai lực lượng hoàn toàn trái ngược và xung đột như vậy? Nếu khuynh hướng chết thắng thế thì hậu quả thật khó lường. Lực lượng đó, ở trẻ em vốn không có, nó dần dần phát triển sau này, vì thế tôi không muốn gọi nó là “bản năng”, mà nó là khuynh hướng. Những người đi tu, những tu sĩ, có phải là những người có khuynh hướng chết mạnh hơn? Tương tự, tư tưởng muốn tu đạo, muốn giác ngộ, ở trẻ em vốn không hề có, nó dần dần được phát triển sau này. Trong nhân sinh này, chúng ta phát hiện ra có điều gì đó “sai sai”, ta cảm tưởng như ta vốn không thuộc về thế giới này, khiến cho việc sống không còn quá trân quý như ta tưởng, khiến cho khuynh hướng chết dần dần hình thành và phát triển.
Giống như một con dao, vào tay kẻ sát nhân nó thành vũ khí, vào tay người đầu bếp thì nó thành công cụ, khuynh hướng chết, nếu phát triển sai hướng thì nó trở thành cực đoan, phá hoại, tự hủy hoại bản thân. Còn nếu ta biết lợi dụng lực lượng này, nó trở thành một động lực giúp ta dũng cảm và kiên tâm tu đạo.
Trước đây tôi rất sợ chết, mỗi lần thiền định một mình trong bóng đêm, nỗi sợ ấy càng tăng lên gấp bội. Nhưng tôi nhớ lại mình đã từng trầm cảm, từng có ý định tự sát, lúc đó tại sao không sợ chết mà tại sao giờ lại sợ? Chỉ là ngồi một chỗ thôi thì có gì phải sợ? Thế là tôi hằng ngày suy ngẫm về cái chết, tự tưởng tượng ra mình đã chết và chết như thế nào. Tôi đã nghĩ, đằng nào cũng phải chết vậy tại sao không thử “chết trước khi chết”? Dần dần cũng vượt qua nỗi sợ. Điều đó có nghĩa là khuynh hướng chết đã biến mất? Không, nó không thể mất, chỉ là tôi đã biết cách vận dụng nó. Khi khuynh hướng sống quá mạnh, đủ loại tham, dục vọng và ham muốn hư vinh sẽ thịnh lên, cần lực lượng đối lập để áp chế nó, đó là cách chúng ta sử dụng khuynh hướng chết. Đến đây tôi lại nghĩ tới biểu tượng âm dương thái cực, trong nửa trắng có chấm đen, trong nửa đen có chấm trắng, liệu có phải là trong sinh có tử, trong tử có sinh? Trẻ em mới sinh là hoàn toàn không có khuynh hướng chết, còn một người sắp chết thì hoàn toàn không còn khuynh hướng sống. Thánh Nhân là người có thể cân bằng cả hai yếu tố trên?

Kiến tánh và diệt độ

Cùng một Chân Lý, cùng một thứ nhưng lại có quá nhiều cách nói khác nhau. Ngoài thức tỉnh hay giác ngộ, những thuật ngữ đã thông dụng trong quốc tế, không phân biệt tôn giáo, Phật môn còn có hai thuật ngữ khác tôi thấy cũng khá thú vị đó là Kiến Tánh và Diệt Độ.

Kiến tánh là từ một câu kinh điển trong Thiền Tông, để cho biết bao đệ tử lẫn thiền sư phải nghiền ngẫm đó là: Kiến tánh thành Phật. Hiểu đơn giản câu này là: nhìn thấy được cái tánh của mình (Chân Tánh) là sẽ thành Phật (giác ngộ). Dường như không có gì đơn giản hơn thế. Đại đạo là chí giản.
Chúng ta thường mắc vào lối tư duy đường mòn: “cái này đơn giản quá, chắc chắn không hiệu quả, hoặc còn ẩn ý gì đó sâu xa hơn trong đó, hoặc cần phải tìm hiểu bối cảnh rõ ràng của câu nói này (ai nói, nói trong tình huống nào, nói với ai,….” Vì thế bắt đầu suy diễn phức tạp hóa lên. Hoặc trực tiếp bỏ qua, không để ý nhiều tới nó mà tìm đến mấy kinh sách nói đầy lời triết lý sâu sắc phức tạp, hoa mỹ hơn.

Tinh túy trong câu nói này nằm ở chữ “Kiến”, tức là “Thấy”. Tại sao lại là nhìn thấy cái tánh của mình chứ không phải là hiểu biết, nhận ra, hiểu ra, ngộ ra,…Cái chữ thấy này dường như là chỉ là một hành động đơn giản, không cần bất cứ tri thức nào, không cần bất cứ học thuật nào, tôn giáo nào, triết lý nào. Chỉ đơn giản là nhìn và thấy thôi. Câu hỏi đặt ra là: Có phải là tôi đang không Thấy cái Tánh? Và làm thế nào để Thấy? Mọi nỗ lực tu tập của chúng ta chỉ là nhằm thực hiện hành động mở mắt ra và nhìn thấy chân tướng, nhìn thấy sự thật. Nếu như tôi đang không thấy, vậy những thứ tôi đang nhìn thấy trước mắt này là gì, là hư giả, là ảo ảnh sao? Có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ có thể nghi ngờ thế giới trước mắt này là giả, nếu như không có một cơ sở nào để quy chiếu. Thật may mắn, chúng ta có một thế giới khác để quy chiếu, đó là thế giới giấc mơ. Thế giới giấc mơ nói cho chúng ta biết, những thứ chúng ta đang thấy, đang tin là thực, hoàn toàn có thể là ảo ảnh, hoàn toàn có thể là do ta đang tự lừa dối chính mình. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để xác thực được điều đó? Khi ta ở trong giấc mơ, ta có thể hơi mơ hồ và nghi hoặc rằng có thể mình đang nằm mơ. Nhưng cách duy nhất để hoàn toàn xác thực là thức tỉnh và mở mắt ra. Khi ta đang còn chưa thức tỉnh khỏi giấc mơ, ta mới chỉ bắt đầu mơ hồ và nghi hoặc, thật may mắn là có những bậc hiền nhân đi trước, những giác ngộ giả, những người đã thức tỉnh nói cho chúng ta biết điều này, giúp cho chúng ta có thêm niềm tin vào trực giác của bản thân và xác định được phương hướng con đường. Đó là điều thật trân quý.

Nhưng nhìn theo một góc độ khác, một góc độ chân chính, những giác ngộ giả cũng chỉ là một nhân vật khác trong giấc mơ mà thôi, những nhân vật có phần đặc biệt, kỳ quái, vì họ đang la hét vào mặt ta rằng ta đang nằm mơ. Đó là lý do trong Thiền tông ta phải “nếu gặp Phật thì giết Phật”. Không bám chấp lấy bất cứ nhân vật nào trong giấc mơ, dù họ có là ai đi nữa, dù có vĩ đại hay thần thánh đến mức nào, cũng chỉ là một nhân vật nào đó, một dạng hình tướng. Vì thế Niết Bàn còn gọi là Diệt Độ: Diệt tất cả hình tướng để độ được sang bến bờ bên kia. Chữ Diệt này thực sự hay, đủ lãnh khốc, đủ quả quyết, đủ quyết liệt. Không chừa lại chút dư âm bám chấp nào. Người đời sau thường nhét thêm chữ rằng: Diệt mọi gốc rễ của khổ đau. Vì họ không thích khổ đau. Nhưng đúng ra nó là Diệt tất cả, diệt mọi hình tướng, diệt vạn pháp, diệt mọi gốc rễ của cả khổ đau lẫn hạnh phúc. Thức tỉnh là thoát khỏi mọi thứ trong giấc mơ chứ không phải chỉ thoát khỏi khổ đau trong giấc mơ. Độ không phải là một chuyến đi từ bờ này sang bờ kia của một con sông, không phải là một hành trình di chuyển vật lý, mà nó là một hành trình hủy diệt.

Không có thuật ngữ nào mô tả được cái Đó. Mỗi một thuật ngữ đều lờ mờ nói lên được một khía cạnh nào đó của nó. Tuy nhiên, giống như thầy bói xem voi, việc tổng hợp mọi thuật ngữ, mọi cách nhìn cũng không thể hiểu chính xác được Nó. Cách duy nhất để thực sự biết là tự Nhìn thấy nó mà thôi.

Phản chiếu

Thời đi học, tôi từng đọc một tác phẩm nào đó mà có câu nói làm tôi ấn tượng sâu sắc đại loại là: “Nếu không có gương thì con người mãi mãi không thể tự biết được khuôn mặt của mình trông như nào.” Suy nghĩ mở rộng là chúng ta cần phải có sự phản chiếu để tự biết mình là ai. Tự nhìn phản chiếu của mình thông qua một tấm gương vật lý thôi chưa đủ, ta còn cần nhìn thấy sự phản chiếu bản thân thông qua muôn vàn những người xung quanh. Đó là lý do chúng ta rất để ý những lời nhận xét, bình phẩm của người khác về bản thân mình. Đó là lý do chúng ta thích chia sẻ hình ảnh bản thân trên mạng xã hội. Để nhận bình phẩm, để tự củng cố, định nghĩa, xây dựng hình ảnh về bản thân. Suy nghĩ lại tôi cảm thấy điều này khá nực cười. Cái phản chiếu đó có thực sự phản ánh đúng về ta không? Hay là ta đang tự xây dựng bản thân dựa trên những phản chiếu đó? Có lẽ là cả hai. Các bản ngã đang tương tác và củng cố xây dựng hình ảnh cho nhau. Ngoài cách tiếp nhận phản chiếu, chúng ta không còn có cách nào khác để TỰ BIẾT MÌNH sao? Nếu một người sinh ra và sống một mình trong hoang đảo, không có ai, không có gì để soi gương, anh ta sẽ định nghĩa về bản thân như nào? Theo lý mà nói, anh ta sẽ không có sự tự định nghĩa Tôi là ai, mà chỉ nhận thức rằng tôi tồn tại, y như một em bé mới chào đời. Có lẽ anh ta cũng không có suy nghĩ, ít nhất không phải suy nghĩ bằng ngôn ngữ như chúng ta hay làm. Thật xảo diệu, trong tiếng Anh từ Reflection có nghĩa là phản chiếu, đồng thời cũng có nghĩa là suy ngẫm/tự chiêm nghiệm.

Liệu có khi nào những suy nghĩ của ta, thứ mà ta tưởng rằng đó là tự mình sản sinh ra cũng chỉ là một reflection, một sự phản chiếu? Những bài hát, những giai điệu bắt tai cứ vang vang trong đầu hiển nhiên là một phản chiếu. Những tư tưởng, tư duy, định kiến tưởng chừng như là của chính bản thân ta hầu như cũng toàn là phản chiếu, là những thứ ta đã nghe ở đâu đó, đọc ở đâu đó và tự áp dụng vào đầu mình, chủ ý hoặc vô ý. Nếu ta thực sự đào sâu hơn, thật sự sâu, ta có thể nhận ra rằng có lẽ mọi tư tưởng trong tâm trí ta đều là phản chiếu. Ta thu vào một tư tưởng của một ai đó từ lúc nào đó, rồi một thời điểm nào đó lại phản chiếu tư tưởng đó ra cho một ai đó. Mọi người đều đang tương tác với nhau. Vậy còn những nhà phát minh, những nhà tư tưởng, những tư tưởng sáng tạo của họ là hoàn toàn mới mẻ, nó từ đâu ra? Nó hẳn vẫn là thứ được xây dựng từ những tư tưởng xưa cũ của ai đó, nay được cải biến và tịnh tiến thêm một bước mà thôi. Đạo Đức Kinh nói: Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật. Mọi thứ đều bắt nguồn từ một cái gì đó và tịnh tiến lên thành vạn thứ phức tạp. Có cái gì gọi là tư tưởng GỐC không? Tư Tưởng của chính bản thân Ta? Có thể nói chỉ có tư tưởng Gốc duy nhất là tư tưởng Ta Tồn Tại. Từ tư tưởng Ta tồn tại, nảy sinh ra tư tưởng Ta Có Nhận Thức, và thành tư tưởng Ta Nhận Thức Thế Giới. Ta, Tánh Nhận Thức và Thế Giới Bên Ngoài là bộ ba tạo nên tất cả.

Tâm trí của trẻ em mới sinh y như một tấm thủy tinh sáng, không vết bụi trần, vì thế ánh sáng chiếu vào dễ dàng đi xuyên qua luôn. Nhưng dần dần nó tự bôi nhọ một mặt để cho tấm thủy tinh trở thành tấm gương, để có thể phản chiếu lại ánh sáng. Tấm thủy tinh trở thành tấm gương (có hai mặt, mặt trước và mặt sau, đó là sự hình thành Nhị Nguyên). Bắt đầu từ lúc nó học nghe, học nói, học ngôn ngữ, đều là học cách phản chiếu/suy ngẫm. Rồi người lớn dạy cho nó biết thế nào là tốt thế nào là xấu,… Nhìn như là đang học, đang phát triển trí tuệ nhưng thực ra lại đang mất đi cái Tánh ban sơ. Trong chương 2 của Đạo Đức Kinh cũng nhắc tới điều này: Thiên hạ đều biết đẹp là đẹp, thế là xấu vậy; đều biết tốt là tốt thế là không tốt vậy, bởi vì có không sinh ra nhau dễ khó thành tựu lẫn nhau, ngắn dài tạo thành lẫn nhau, trên dưới lộn lạo ra nhau, thanh âm hòa hợp với nhau, sau trước theo nhau. Cho nên thánh nhân dùng Vô vi mà xử sự, dùng «vô ngôn» mà dạy dỗ.

Vô ngôn và vô vi, chính là không cho tạo ra bất cứ thứ gì để đối phương có cơ hội để phản chiếu. Nếu họ hiểu thì họ sẽ tự quay ngược vào bên trong, tự chiếu bản thân. Đây chính là cái gọi là “Hồi quang phản chiếu”.

Nhưng cũng đừng cho việc trở thành tấm gương phản chiếu là “xấu”. Đó chỉ là sự vận động, chuyển biến của Đạo mà thôi. Về bản chất, chúng cũng không khác gì nhau, vẫn là thủy tinh mà thôi.

An tâm

Thiền tông có câu chuyện nổi tiếng về sư Huệ Khả cầu Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma phương pháp an tâm. Tổ Ðạt-ma nhìn thẳng, bảo: “Ðem tâm ra ta an cho.” Ông sửng sốt quay lại tìm tâm, không thấy bóng dáng, thưa: “Con tìm tâm không được.” Tổ bảo: “Ta an tâm cho ngươi rồi.” Ngay đây ngài Huệ Khả biết được đường vào. Sau này Huệ Khả đã kế thừa y bát và làm Tổ sư Thiền tông thứ hai ở Trung Hoa.

Hồi đi học tôi đã từng được nghe một cô giáo kể về chuyện con đà điểu cắm đầu xuống đất để trốn tránh kẻ địch nguy hiểm, vì chúng nghĩ rằng khi vùi đầu trong đất, không nhìn thấy nguy hiểm nữa thì nguy hiểm sẽ không tồn tại. Vì thế nó có thể cảm thấy “an tâm”. Mọi người đều cười chê chế giễu hành vi ngu xuẩn này của đà điểu. Sau này tôi mới biết rằng đây là một sự hiểu lầm, một quan niệm lệch lạc được truyền miệng phổ biến của con người về đà điểu. Thực tế, khi đà điểu gặp nguy hiểm, nó có thể chạy trốn cực nhanh hoặc dùng móng vuốt sắc nhọn để đá kẻ thù. Lý do chúng đôi khi vùi đầu xuống đất thực ra là để kiểm tra những quả trứng được chôn dưới đất của chúng.

Ngẫm đi ngẫm lại, thực ra chính chúng ta mới là những con “đà điểu ngu xuẩn” đó. Những sinh vật thực sự trốn tránh nguy hiểm chỉ bằng cách vùi đầu vào cái gì đó để không còn nhìn thấy sự đe dọa. Mắt không thấy thì não không lo. Tự an tâm bằng cách lảng tránh, không dám đối diện. Không dám đối diện với sự hư vô, phiêu miểu giả tạm của nhân sinh, của cuộc đời. Trốn tránh không dám nhìn vào sự thật rằng mình sẽ phải chết. Vùi đầu vào trong mấy thứ giải trí vô bổ, để giết thời gian, để làm tâm trí bận bịu với những drama, những suy nghĩ nhỏ nhặt, chơi đùa với những cảm xúc, để không để cho tâm trí có thời gian hay năng lượng để nhìn thấy những vấn đề lớn. Không thấy thì không còn bận tâm. Để rồi đến khi cuộc đời xảy ra một biến cố lớn, một cú sốc lớn (mất người thân, phá sản, bệnh nan y, tai nạn,…), chúng ta mới giật mình tự hỏi: Tôi là ai? Tôi đang làm gì trong cuộc đời này? Tôi sẽ đi về đâu? Ý nghĩa là gì? Thường thì lúc đó thời gian đã quá trễ, trước đó tâm không hề được chuẩn bị hay rèn luyện, lúc đó gặp cú sốc lớn, thường là sẽ băng hoại, con người trở nên sa đọa, buông xuôi, nào dễ gì có thể biến nó thành động lực để tu tập, để đi tìm chân lý.

Một nhóm người khác tìm sự an tâm bằng cách gia nhập một tôn giáo, để nhúng mình vào một niềm tin rằng mình sẽ có sự sống đời đời, được lên thiên đàng, tới cõi cực lạc,…, miễn là mình đủ tốt. Thế là mối đe dọa của sự vô thường tạm thời được che lấp đi. Miễn là ta đào một cái hố đủ sâu, đủ để vùi đầu vào đó, ta sẽ không nhìn thấy rằng ngôi nhà chúng ta đang ở đang cháy, cháy dữ dội. Chỉ tới khi nó cháy đến tận thân thể ta, ta mới không thể giả vờ không thấy được nữa.

Sự bất an luôn như một cái dằm âm ỉ ghim trong tâm trí. Ta phải liên tục tập trung ra bên ngoài quên đi sự tồn tại của nó ở bên trong. Ở thời đại hiện tại, việc sẵn có mạng internet, mạng xã hội và điện thoại trên tay 24/24, lượng thông tin nạp vào đầu mỗi ngày là quá nhiều, quá dễ để phân tâm, để lấp đầy cái dằm trong tâm trí. Nhưng đôi khi ta lơ là, ta sẽ vẫn thấy nó nhức nhối dữ dội. Họ gọi đó là “khủng hoảng hiện sinh” (existential crisis), nhưng tôi chỉ cho rằng đó là điều xảy ra khi ta thực sự thành thực với bản thân mình, thành thực rằng mình Không Biết một cái gì hết. Nhưng sự thành thực này tồn tại được bao lâu? Khi ta bất chợt nhận ra sự trống rỗng, giả tạm của mình, ta kinh hoàng, và ngay lập tức cố gắng lấp đầy bản thân bằng những sự phân tâm, bằng các niềm tin, bằng cách cố gắng xây dựng một hệ thống niềm tin và đắp cho chúng vững mạnh hơn bao giờ hết. Niềm tin rằng tôi là một người này người nọ, vai trò của tôi với gia đình và xã hội là abc, công việc của tôi là xyz, sau khi chết tôi sẽ lên thiên đàng, vãng sinh cực lạc, cuộc sống này tuy ngắn ngủi nhưng đây chỉ là một trải nghiệm tạm thời của một linh hồn vĩnh cữu,…Muôn hình vạn trạng các loại niềm tin, chỉ để cố lấp đầy cái cảm giác trống rỗng giả tạm.

Nhưng nếu như tôi không cố gắng lấp đầy nó nữa, thậm chí còn đốt sạch, xóa sạch tất cả các niềm tin? Nếu như tôi không cố gắng ngoi lên khỏi sự trống rỗng mà thậm chí còn chìm xuống nó, chìm sâu vào nó, để nó nuốt chửng? Để biết được cái gì mới thực sự là KHÔNG? Chân Không. Nếu như? Cách duy nhất để an tâm là không có tâm.

Tìm cảm giác thuộc về

Chúng ta ai ai cũng cố tìm một cảm giác thuộc về, thuộc về một ai đó, thuộc về một tập thể nào đó, một tổ chức nào đó, một nền văn hóa nào đó. Tại sao chúng ta luôn muốn thuộc về một nơi nào đó? Tâm lý học nói rằng con người đã tiến hóa để trở thành một giống loài có tính xã hội, quần thể, chỉ khi thuộc về một xã hội nào đó, cá nhân mới cảm thấy mình có giá trị, cuộc sống có ý nghĩa và không cô đơn. Nhưng nó còn có nguyên nhân sâu xa hơn: cá nhân tự cảm thấy bản thân rất giả tạm và vô thường, vì thế tìm cách đắp lên người một lớp bản ngã to lớn hơn, đó là tập thể bao bọc và chứa đựng nó, giống như một con cua ẩn sĩ chui vào vỏ ốc biển và đeo nó trên người làm thứ che chắn cho phần cơ thể yếu hại. Giống như một người thuộc về một công ty lớn, thành lập lâu năm, họ sẽ cảm thấy tự tin và chân thực hơn. Họ cần tìm một cái vỏ ốc càng cứng, càng mạnh càng tốt, một vỏ ốc cả về vật chất và tinh thần. Thuộc về một tập thể ưu việt, bản ngã sẽ cảm thấy càng ưu việt. Mọi người đều sa vào các tập thể, tổ chức khác nhau: công ty, câu lạc bộ, tôn giáo, hội nhóm tu luyện, một nhóm cùng hệ tư tưởng,…Nhiều người nói rằng họ muốn giác ngộ, muốn thức tỉnh, thực ra chỉ là tự lừa dối, họ đang sa vào một cái hội nhóm tu luyện nào đó để tìm cảm giác an toàn và ưu việt cho bản ngã.

Thế còn tôi? Hệ tư tưởng của tôi, hội nhóm của tôi? Hệ tư tưởng thì có, nhưng tôi không thuộc về hội nhóm tu luyện nào cả. Tôi đã từng có thầy và các tác giả sách làm thầy, nhưng tôi đã đặt xuống toàn bộ bọn họ. Tôi hoàn toàn cô độc một thân một mình, độc hành. Nếu tôi thành lập hội nhóm, sẽ là tự mâu thuẫn lại với triết lý bất nhị của mình, vì tôi cho rằng toàn bộ thế giới này toàn bộ là tôi, không có ai khác ngoài tôi. Thực ra tôi vẫn đang tự mâu thuẫn khi viết những dòng chữ này với đại từ nhân xưng là “tôi”, vì “tôi” tức là ẩn ý còn có người khác ngoài “tôi”, đó là “bạn”, là “họ”. Nhưng tôi sẽ cố gắng giữ sự tự mâu thuẫn ở cấp độ nhỏ. Vì tôi đang viết cho những người đọc tưởng tượng của tôi, cũng là tự viết cho chính bản thân tôi. Ở đâu có hai người tụ tập nói chuyện giao lưu, ở đó có Maya.

Tôi đang sống và làm một số công việc trong thế giới này, nhưng tôi không cho rằng mình thuộc về bất cứ tổ chức nào, cũng không thuộc về thế giới này. Giống như một đám mây trôi qua bầu trời, không thể nói rằng đám mây thuộc về bầu trời. Chỉ có thể nói do một số điều kiện nhất định, do nhân duyên nhất định mà nước (bản chất) hình thành dưới dạng những đám mây trôi trên bầu trời (hiện tượng). Không cần thiết phải sắp xếp cho nó thuộc về bất cứ thứ gì. Trong khoảnh khắc này, nó trôi trước tầm mắt bạn, hình thành một số hình thù nhất định. Khoảnh khắc sau, nó trôi đi chỗ khác, hoặc tan biến.

Tôi không cần mượn bất cứ cái vỏ nào để cảm thấy mình an toàn hơn và ưu việt hơn vì tôi đã cảm thấy mình an toàn nhất và ưu việt nhất. Vì chẳng có ai khác ngoài tôi, ai có thể làm tổn hại tôi, ai có thể ưu việt hơn tôi? Nhưng câu hỏi đặt ra là: Liệu hệ tư tưởng và triết lý bất nhị có phải cũng là một dạng vỏ bọc của tôi không? Một vỏ bọc tối hậu? Đây chính là một cái bẫy mà ta cần tránh rơi vào. Bất Nhị là để Sống như Bất Nhị chứ không phải là một dạng lý luận triết lý hay hệ tư tưởng. Khi tôi viết ra thì tôi buộc phải khiến nó trông giống như một dạng triết lý vì đây là giới hạn của ngôn từ. Ngôn từ chỉ có thể truyền tải khái niệm, tư tưởng, chứ không thể truyền tải Chân Lý. Đây giống như ẩn dụ Thiền tông “ngón tay chỉ trăng”. Ngón tay thuộc về bàn tay, bàn tay thuộc về cơ thể, cơ thể thuộc về gia đình, xã hội,…Còn mặt trăng không thuộc gì hết. Khi tôi “Biết” Bất Nhị, tôi không thuộc về “hội những triết gia Bất Nhị”, mà tôi Là Bất Nhị.

Vòng tròn luẩn quẩn

Ta phát hiện ra rằng khi ta suy xét tới những khái niệm căn bản của thế giới thì chúng ta rơi vào một vòng tròn luẩn quẩn:
– Chúng ta quan sát các chuyển động của vật để xác định và đo lường thời gian, nhưng các vật lại cần thời gian để chuyển động.
– Chúng ta dùng các vật thể để xác định và đo lường không gian, nhưng các vật cần có không gian để hiện hữu.
– Chúng ta dùng tư tưởng để suy nghĩ về nguồn gốc của ý thức nhưng suy nghĩ chỉ tồn tại được khi có ý thức.
….
Thế giới phân thành bản chất và hiện tượng, chúng ta cố tìm hiểu cái bản chất thực sự là gì, nhưng lại đang sử dụng những cái hiện tượng để lý giải cái bản chất. Nhưng chúng ta đâu có gì khác tốt hơn để sử dụng? Hiện tượng là tất cả những gì chúng ta có. Khoan đã, là tất cả những gì chúng ta CÓ? Ta CÓ gì và Ta LÀ gì? Liệu cái ta có có phải là cái ta là? Ta là cơ thể này hay ta có cơ thể này? Ta là tâm trí này hay ta có tâm trí này? Hãy tưởng tượng Ta chính là vũ trụ. Tất cả những suy nghĩ, giác quan, cảm xúc, là hiện tượng, còn Ta là bản chất. Nếu dùng suy nghĩ, giác quan, cảm xúc để định nghĩa Ta thì lại rơi vào vòng tròn luẩn quẩn như trên. Thay chữ Ta bằng Ý Thức, ta có thể nói: vòng luẩn quẩn dùng những biểu hiện của Ý Thức để định nghĩa Ý thức.

Câu hỏi đặt ra là Tại sao ta lại phải cố gắng định nghĩa Ta là ai? Nguồn gốc động lực này đến từ đâu. Nếu ta thay đổi định nghĩa về bản thân thì Ta có thay đổi không? Nếu ta định nghĩa sai lầm về bản thân thì ta có thể bị biến đổi không? Theo lý mà nói: Không thể. Cái hiện tượng làm sao có thể quyết định được cái bản chất, làm sao có thể thay đổi cái bản chất. Nội dung trên một màn hình tivi làm sao có thể thay đổi được bản chất của màn hình. Nhưng định nghĩa sai lầm về bản thân có thể khiến ta đưa ra những hành vi sai lầm không đáng có, khiến ta chịu khổ (hoặc là tự ảo tưởng rằng mình khổ).
Câu hỏi Ta là ai thực chất không phải là một câu hỏi để tìm ra đáp án. Nó là câu hỏi dùng để phá hủy các câu hỏi khác. Nó gợi ý rằng ta đang tự định nghĩa mình một cách sai lầm, dẫn đến u mê lạc lối, nên bản năng ta tự toát lên câu hỏi đó trong nội tâm. Thực chất ta không cần tìm ra đáp án chính xác ta là ai, mà chỉ cần loại bỏ mọi tư tưởng, định kiến, niềm tin sai lầm về Ta, cái còn lại chính là cái Chân Ngã. Để tránh rơi vào vòng luẩn quẩn, chỉ cần nhớ câu khẩu quyết của Đạo gia: “Lấy hư vô làm bản thể, lấy hiển hóa làm công dụng.” Bản thể chính là thứ giống như hư vô, không thể định nghĩa, không thể tiếp xúc trên phương diện lý trí và giác quan. Hiển hóa chính là những hiện tượng, những nội dung trên màn hình tivi, chúng là những công năng của tivi, tự nó diễn hóa ra, nó phục vụ những mục đích khác, nó là công dụng chứ không phải là bản thể. Hiểu được điều này trước rồi dần dần tiếp cận tới trạng thái ngộ đạo Bản Thể và Công Dụng không phải là hai mà là một. Như vậy vòng tròn luẩn quẩn sẽ tự tiêu hủy.

Cái chết luôn ở quanh ta

Thời gian gần đây, tôi thường xuyên nhìn thấy các đám tang, các thông báo cáo phó. Ngày hôm qua, khi đi mua đồ ở tiệm tạp hóa, bà chủ bỗng nhiên hỏi tôi có biết về vụ tai nạn ở ngay ngã tư gần đó, một bé gái trên đường đạp xe đi học đã bị xe tải cán qua, tử vong một cách thương tâm. Lúc đó tôi mới biết tới sự vụ này. Vẫn biết lúc nào cũng có người chết, già trẻ lớn bé, nam nữ,…đủ loại người chết hàng ngày hằng giờ, nhưng những cái chết của trẻ em xảy ra ở gần ta luôn mang lại một cảm giác khác. Một cảm giác thương cảm, một là thương cho nạn nhân, hai là tự thương cảm cho chính bản thân mình, tại sao ta lại sống trong một thế giới tạm bợ vô thường, nơi mà cái chết có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Khi mà ta thấy cuộc sống đang tốt đẹp nhất, hạnh phúc nhất thì điều tồi tệ nhất vẫn luôn có thể xảy ra. Nó giống như là một hồi chuông cảnh tỉnh. Ta đang sống ở trong một căn nhà cháy mà cứ cố tình phớt lờ, vẫn ham mê khoái lạc bên trong nó, phớt lờ hồi chuông báo cháy luôn reo vang inh ỏi từng phút từng giây. Những sự kiện thương tâm này nhìn theo một cách tích cực thì nó cũng là một cú sốc lại, một động lực kéo chúng ta ra khỏi trầm mê, để dũng cảm mở mắt ra đối diện với sự vô thường. Cái chết luôn là một nguồn động lực lớn giúp chúng ta bước lên con đường tu tập, con đường đi tìm sự thật.

Ta được sinh ra tới thế gian này, không biết mình là ai, không biết mình đến để làm gì, không biết ý nghĩa của nhân sinh là gì. Tất cả mọi thứ đều là do người khác nói cho ta, họ bảo ta là ai, ta phải làm gì, tất cả đều phải học từ những người khác. (Hoặc là phải tự ngộ ra?) Ta đến với thế gian này mà không hề có chuẩn bị trước, nhưng ta có cơ hội chuẩn bị trước cho sự ra đi của chính mình. Đây cũng là một phước lành. Luôn nhận thức về cái chết, luôn biết rằng cái chết có thể xảy đến với mình bất cứ lúc nào, sẵn sàng đón nhận nó khi nó đến, đó là một loại chuẩn bị chu toàn nhất.

Những hình ảnh này, những âm thanh này, những cảm giác này, có thể từ từ biến mất từng chút từng chút một như lúc ta chìm vào cơn mê man, cũng có thể là đóng sầm lại tất cả một cách thô bạo trước khi ta kịp nhận thức được nó đến, cũng có thể là tất cả cảm xúc, giác quan, hành động đều cao trào lên đỉnh điểm kịch tính nhất, mọi thứ trở nên sinh động rõ ràng nhất trước khi mọi thứ biến mất. Ta đều đã trải nghiệm qua những điều đó. Nhưng lần này sẽ là lần khác biệt, lần này ta đã có chuẩn bị. Ta sẽ giữ được ý thức đó, khi khoảnh khắc đó đến.

Không và Có

Tôi nhớ về những ngày thơ ấu, sống ở thôn quê, buổi tối mùa hè, ngẩng đầu lên có thể nhìn thấy một bầu trời sao lấp lánh tuyệt đẹp. Họ nói rằng vũ trụ là vô tận và có vô số các vì sao và hành tinh. Điều đó khiến tôi cảm giác vũ trụ thật hùng tráng và mình thật nhỏ bé, khiến cho tôi mỗi lần nhìn lên bầu trời đều cảm khái vô cùng, vừa kỳ vọng và cũng vừa nuối tiếc. Kỳ vọng rằng một ngày nào đó trong tương lai, con người chúng ta có thể tiến vào không gian để chiêm ngưỡng và khám phá, và tiếc nuối rằng cuộc đời mình thật nhỏ bé và ngắn ngủi, không thể nào ngắm nhìn và hiểu biết được toàn bộ kỳ quan vũ trụ. Vũ trụ đầy mị lực, một chốn mà ta luôn hằng hướng tới.

Nhưng dần dần tôi mới để ý rằng, vũ trụ thật sự rất đẹp nhưng sức hút của vũ trụ thực chất chính là ở sự vô tận của nó. Chúng ta đang tồn tại ở đây với tư cách là một sinh vật hữu tận, khao khát hướng về sự vô tận. Sâu thẳm trong chúng ta, cảm giác được nó như là một chốn để quay về. Muốn phân giải hết mọi giới hạn của mình, để trở về cái vô hạn.
Khởi nguyên ban sơ: “Vô trung sinh hữu” – Từ không sinh có.
Đại Đạo hồi quy: Từ hữu về vô. Từ hữu ngã thành vô ngã, hữu hạn thành vô hạn, hữu hình thành vô hình, hữu lậu thành vô lậu,…
Nhiều người không hiểu mà cho rằng đây là thuyết hư vô, trường phái hư vô mà chỉ trích nó. Bảo rằng nó khiến người theo nó hướng tới tư tưởng cực đoan, cho rằng cuộc sống không còn ý nghĩa, làm gì cũng là vô dụng, hư ảo, dẫn tới chán nản, tuyệt vọng,… và nó phá hủy mọi giá trị cuộc sống. “Nếu ai cũng nghĩ như vậy thì loài người sẽ diệt vong”- Họ nói vậy.
Nhưng thực ra đấy mới chỉ là cái vỏ ngoài, những người nghĩ như trên hoặc lâm vào trạng thái như trên mới chỉ là những người mới nhìn thấy cái hố đen, biết được sự tồn tại của hố đen. Nếu có cái gọi là “Thuyết hư vô Chân Chính” thì họ chỉ là những kẻ chỉ thấy được da lông, chưa chạm vào cốt tủy. Họ nghĩ rằng họ đã chạm tới sự thật và buông xuôi không làm gì nữa. Ta phải đi xa hơn thế nữa, ta phải đi vào hố đen đó, chìm đắm vào trong nó, để nó nuốt chửng ta, để xem cái Vô đó thực sự là gì, nó dẫn ta đi đâu. Hay liệu có còn Ta nữa không? Đây chính là Bước Đầu Tiên, cũng là Bước Cuối Cùng. Nó đòi hỏi đại lượng dũng khí và một đạo tâm vững chắc. Để cho ta nhận ra nghịch lý rằng: Cái Không không phải là sự phủ định của cái Có mà nó là Mẹ của cái Có. Vô hạn là mẹ của hữu hạn, Vô Hình là mẹ của Hữu Hình, Vô nghĩa là Mẹ của Ý Nghĩa,…Một thứ nếu đã tồn tại thì không thể không tồn tại nữa, mà nó chỉ thay đổi, nó tồn tại dưới một dạng khác, một hình thái khác. Do con người vô minh, nếu không còn nhìn thấy thì bảo rằng nó KHông còn tồn tại. Nếu thấy một người chết đi, rồi hỏa thiêu, họ không còn thấy người đó nữa, họ bảo rằng người đó không còn tồn tại. Họ bảo rằng cuộc đời là vô nghĩa vì không còn thấy cái ý nghĩa lúc trước nữa. Họ bảo rằng cuộc đời là hư ảo chỉ vì cái họ tưởng là thật hóa ra chỉ là cái không thật. Họ chỉ dừng tại đó, đã không thể tiến xa hơn nữa. Không thể thấy xa hơn. Giống như một nhân vật trong một giấc mơ, lúc nãy ta thấy họ, bây giờ lại không thấy, vậy nhân vật đó có tồn tại hay không? Họ đã trở về dạng vô hình, là Ý Thức, thứ mà đã tạo dựng lên hình dáng của họ. Chỉ là nhân vật đó hiện tại đã không còn tồn tại theo hình thức lúc nãy, và cũng không còn mang theo ý nghĩa lúc đó nữa.
Cái Không không phải là không còn gì nữa mà là trở về bản nguyên. Điều này đã được tổng kết ngắn gọn ở phần mở đầu trong cuốn A Course In Miracles: Cái Thực không thể bị đe dọa. Cái không thực thì không tồn tại. Sự an bình của Thượng Đế chính là nằm tại đây.

Gánh nặng của việc được công nhận

Khi ta phát biểu về một sự kiện, hiện tượng nào đó phi lẽ thường, ta phải có nghĩa vụ chứng minh điều đó, và điều đó thường không dễ dàng. Nếu không chứng minh được, họ chỉ bán tín bán nghi hoặc trực tiếp coi ta là kẻ nói dóc.
Tôi đã học dược điều đó từ nhỏ, khoảng 6-7 tuổi, khi tôi đã trải qua một sự kiện hy hữu mà cả đời không có lần hai. Vào một đêm đó, tôi ngủ cùng bố mẹ, bỗng nhiên tôi thức dậy, và không hiểu sao tôi lại ngẩng đầu lên nhìn ra phía đầu giường, và tôi nhìn thấy một “con Ma”, là một linh hồn một đứa bé chạc tuổi tôi. Nó kiểu trắng sáng mờ mờ y như hồn ma mà ta thường thấy trong các bộ phim, chỉ có điều các đường nét của nó lại cực kỳ rõ ràng y như một con người bình thường. Nó ngồi ngay đầu giường, chỉ cách tôi có khoảng nửa mét, và nó cũng đang nhìn thẳng vào tôi. Tuy tôi hết sức kinh ngạc, nhưng lại không hề sợ hãi chút nào. Tôi không hiểu tại sao lúc đó mình lại dũng cảm vậy. Có lẽ do nó cũng có vẻ hiền lành, và tôi có cảm giác thằng nhóc này vừa lạ vừa quen. Tôi cũng đã nghĩ hay là mình đang nằm mơ, vì thế tôi đã dụi mắt rồi tự véo vào tay, nhưng không có gì khác. Tôi thử nằm xuống nhắm mắt lại một lúc, rồi lại ngẩng đầu lên nhìn ra đầu giường, nó vẫn ngồi đó nhìn vào tôi. Tôi không lên tiếng gọi bố mẹ dậy, cũng không biết phải làm gì. Sau đó tôi lại ngủ tiếp. Tôi cũng không nhớ mình như thế nào mà lại có thể thiếp ngủ đi trước tình huống siêu nhiên vậy, hoặc trí nhớ về đoạn tiếp theo đã bị xóa sạch khỏi tâm trí tôi. Tôi chỉ nhớ là sáng hôm sau tỉnh dậy, nó không còn ở đó, mọi thứ vẫn bình thường như mọi ngày. Và tôi không bao giờ gặp điều gì tương tự như đêm hôm đó nữa. Sau đó tôi đã đem câu chuyện này kể cho bố mẹ và anh trai tôi, toàn bộ bạn bè của tôi, nhưng không ai tin và chỉ cho rằng tôi ngủ mơ. Cá biệt chỉ có một hai đứa bạn thực sự tin câu chuyện của tôi vì chúng cũng tự nhận rằng đã từng nhìn thấy ma, nên chúng đồng cảm với tôi. Tôi không có cách nào chứng minh được điều mình đã trải qua nên hầu hết không ai tin. Tôi hiểu điều đó nên sau này không kể câu chuyện này với ai nữa.
Sự kiện “gặp ma” năm đó đã thay đổi đáng kể nhận thức về thế giới quan này với tôi. Nó khiến tôi sau này tin vào thế giới tâm linh, khiến tôi tìm hiểu tập luyện nhiều thứ liên quan tới tâm linh và cũng mất nhiều năm để thoát ra khỏi mấy thứ đó. Nhưng ý nghĩa to lớn nhất của sự kiện đó là nó đã làm tôi thực sự nghiêm túc suy nghĩ rất nhiều về câu hỏi “Cái gì là Thực?”
Không khí này, mặt đất này, ngôi nhà này là thực sao? Tại sao “Con ma” năm đó không phải là thực? Vì tôi không có cách nào chứng minh được, người khác không tin. Không có người quan sát thứ hai cùng thấy điều đó. Không có sự KHÁCH QUAN. Giả sử có người thứ hai cũng nhìn thấy điều tôi nhìn thấy, hoặc có một chiếc camera cũng ghi lại được điều đó, vậy có thể gọi là có sự khách quan. Tôi nhận ra rằng cái gọi là thực tại (reality) thực ra chỉ là Thực Tại Đồng Thuận (consensus reality). Tức là một phiên bản thực tại mà một nhóm người công nhận và chấp nhận. Nó không phải là thực tại chân chính. Sống trong thế giới này, nếu tôi – chủ thể – muốn đưa vào một thứ gì đó mới mẻ và muốn cho nó là thực, thì cần phải có sự công nhận là đồng thuận của các khách thể khác. Ví dụ, một nhà khoa học tìm ra được một loại vật chất mới thì ông phải chứng minh điều đó và được những nhà khoa học khác công nhận, và đại chúng thì nghe theo các nhà khoa học và cũng công nhận theo. Theo đó, vật chất đó mặc nhiên có sự tồn tại trong thế giới này và được coi là Thực. Như tôi, chưa bao giờ biết nguyên tử là gì, chưa bao giờ trải nghiệm nhìn thấy nó, nhưng tất cả mọi người đều công nhận và đồng thuận rằng nó có tồn tại, nên tôi cũng chấp nhận rằng nguyên tử là thực. Còn việc nhìn thấy con ma, mọi người xung quanh tôi đều không công nhận, khiến tôi không có cách nào xác thực rằng liệu con ma đó có thực không, hay đó là do bản thân tôi bị ảo giác. Không có sự đồng thuận của các khách thể khác, con ma không có cách nào có được chỗ đứng thực sự trong thế giới của tôi. Tôi lại tới nghĩ ra trường hợp khác. Giả sử như con ma xuất hiện rất nhiều lần trước mắt tôi, ngày này qua ngày khác đều tới, chắc chắn tôi sẽ coi nó là có thực, chẳng cần quan tâm xem người khác có chấp thuận hay không. Vậy vấn đề là gì? Tôi đang trao quá nhiều quyền lực cho người khác, cho các khách thể, để cho họ có quyền quyết định cái gì là thực, cái gì là giả, quyết định thế giới quan nhân sinh của tôi. Nếu tôi có thể tự suy nghĩ độc lập, tự quyết định, tại sao cần dựa vào người khác định đoạt? Một ý tưởng điên rồ và táo bạo khác: Những con người khác là khách thể trong thế giới của tôi, nhưng con ma đó cũng là một khách thể, tại sao những con người đó thì tôi cho là thực, và có quyền lực quyết định cái gì là thực, còn con ma đó thì không? Hãy tưởng tượng ra câu chuyện sau: Nếu tối nào con ma đó cũng đến và tôi trò chuyện với nó: “Mày có tin là con người có thật không, sáng nay tao gặp rất nhiều người đấy.” Con ma cười và bảo: “con người làm gì có thật, chắc mày nằm mơ giữa ban ngày?”. Thật hài hước khi đảo ngược mọi thứ như vậy. Vấn đề ở đây chính là TẦN SUẤT. Thứ gì có tần suất xuất hiện càng nhiều thì ta càng coi thứ đó là thực. Thứ gì xuất hiện nhiều nhất đây? Chính là cơ thể này, thân thể này. Vì thế ta đang coi thân thể là thứ chân thực nhất. Tiếp theo đó có thể là mặt đất, bầu trời, bố mẹ, gia đình, bạn bè,….
Điều đó có thể nói rằng: Ta là người TOÀN QUYỀN quyết định thứ gì là Thực. Không ai có thể nhìn như ta đang nhìn, nghe như ta đang nghe, cảm nhận như ta đang cảm nhận,…tại sao lại giao quyền cho người khác định đoạt? Ta có thể TIN rằng họ đang sống chung một thế giới với ta, nhưng thực tế thì không. Thế giới này là giấc mơ của ta. Họ ở trong thế giới giấc mơ của họ. Hoặc có thể là không hề có “họ”, không có thực thể nào khác ngoài TA.
Nếu một người nói là “Tôi đã giác ngộ.” Đừng yêu cầu người đó chứng minh làm gì. Vì nếu người đó nói dối, họ không thể chứng minh. Còn nếu người đó giác ngộ thật, họ không cần chứng minh, vì bậc giác giả không cần bạn công nhận, thực tế là bạn cũng không có quyền công nhận. Hoặc có lẽ là hoàn toàn KHÔNG có cách nào chứng minh. Khi tôi nằm mơ, tôi nói với những người trong giấc mơ của tôi là họ chỉ là do tôi tưởng tượng ra, họ yêu cầu tôi chứng minh, tôi chứng minh như nào đây? Bằng cách thức tỉnh sao? Điều đó đồng nghĩa rằng họ cũng tan biến. Chẳng còn ai để CÔNG NHẬN. Vậy việc tôi cố chứng minh là vô nghĩa.

Cảm giác về sự liền mạch

Suy nghĩ thật kỹ, ta sẽ thấy thật kỳ lạ rằng: cái mà ta gọi là bản ngã, lại được cấu thành từ những thứ vô ngã. Hay nói cách khác, cái gọi là Ta lại được cấu thành từ những thứ vốn không phải là Ta, nhưng được gọi là cái “của Ta”. Chẳng hạn: đôi mắt của ta, tay chân của ta, cảm giác của ta, suy nghĩ của ta,…Nhìn chung, tất cả những thứ “của ta” này có thể được gọi là “trải nghiệm của ta”. Những trải nghiệm của Ta này là một chuỗi các sự kiện chạy liên tục tạo thành một câu chuyện của Ta, và Ta tự định nghĩa bản thân này dựa trên câu chuyện đó. Tại sao chuỗi sự kiện lại phải có sự liền mạch, tức là sự kiện này dẫn tới sự kiện kia, nguyên nhân này tiến triển và phát triển thành một hệ quả nào đó? Chẳng hạn, câu chuyện của ta là ta được bố mẹ sinh ra, từ bé ta đã như nào như nào, rồi lớn lên đã như nào như nào,…Ta hiện tại phải là thứ gì đó kết nối và phát triển từ cái ta trong quá khứ. Mỗi lần có ai đó hỏi rằng ta là ai, ta là người như thế nào, lập tức câu chuyện về cuộc đời ta nổi lên vụt qua tâm trí trong chốc lát và ta trả lời người đó định nghĩa về bản thân ta dựa trên câu chuyện của về cuộc đời của ta. Ví dụ: tôi nhớ về những lần tôi đã xúc động rơi nước mắt, tôi mới trả lời họ rằng tôi là một người nhạy cảm, đa cảm.

Câu chuyện cuộc đời không thể là một chuỗi sự kiện hỗn loạn và không kết nối. Không thể có chuyện tôi hồi bé là một đứa nông dân nhà nghèo rồi bây giờ tôi lại là một thằng nhóc con của tỉ phú. Nếu trong đầu tôi đồng thời tồn tại hai loại ký ức, hai câu chuyện tương phản mâu thuẫn như vậy, rất có thể tôi đã bị đưa vào viện tâm thần. Vì chúng ta biết rằng, một câu chuyện có nghĩa phải luôn là liền mạch logic. Khi có bất cứ thứ gì bị đứt đoạn, ta sẽ không coi nó là của Ta, vì thế không liên quan tới Ta. Chẳng hạn, khi ta thức tỉnh khỏi một giấc mơ, tất cả mọi chuyện ta trải qua trong giấc mơ đều bị đứt đoạn khỏi thế giới thực, vậy nó sẽ nhanh chóng bị quên lãng và không liên quan gì tới Ta nữa. Trừ khi một giấc mơ đủ mạnh để lưu lại ấn tượng cảm xúc sâu sắc với tâm trí bạn ngay cả sau khi bạn thức tỉnh. Vậy tức là nó đã có sự kết nối liền mạch từ sự kiện cũ tới sự kiện tiếp theo, vậy thì nó đủ hợp lý để bổ sung vào câu chuyện cuộc đời. Một ví dụ khác là khi bạn bị mất trí nhớ, vậy những sự kiện bạn đã quên đi sẽ không còn liên quan tới bạn, và sẽ không còn định nghĩa bạn. Tôi đã từng đọc rằng khi con người trải qua một sự kiện thực sự kinh hoàng và gây sốc, não bộ có thể tự động xóa đi ký ức về trải nghiệm đó để không làm ảnh hưởng xấu tới cuộc sống sau này. Thực tế đã có nhiều trường hợp bệnh nhân như vậy. Tôi thấy rằng điều đó rất thú vị.

Nhưng nếu chúng ta suy ngẫm sâu hơn. Những sự kiện trong cuộc đời này không phải là hoàn toàn liền mạch, hoặc không phải liền mạch theo cách mà ta vẫn tưởng, tức là không nhất thiết phải là sự kiện này phát triển ra sự kiện tiếp theo. Hãy tưởng tượng một người đang cầm ngọn đuốc xoay tròn tròn thật nhanh trong bóng đêm, một người khác từ xa nhìn lại sẽ thấy giống như đang có một vòng tròn lửa. Anh ta bị đánh lừa, đó là một ảo ảnh, hoàn toàn không có một vòng tròn liền mạch nào cả. Một ví dụ khác là ở trong chiếu phim điện ảnh. Theo cách chiếu phim cổ điển, họ tua nhanh cuộn băng phim chứa hàng nghìn bức ảnh khác nhau và chiếu lên màn hình, tạo ra cảm giác chuyển động liền mạch. Nếu xem một cách chậm rãi, chúng ta sẽ thấy rằng các bức hình trong phim đâu liên quan gì tới nhau, chúng hoàn toàn là các bức hình tách biệt. Không thể nào nói rằng bức hình này là kết quả của bức hình trước đó. Nếu chúng ta xem các đoạn phim xưa cũ từ thuở sơ khai của điện ảnh, chúng ta có thể dễ dàng thấy các chuyển động không hoàn toàn liền mạch, nó vẫn có sự “giật cục”, không thực sự kết nối với nhau. Nhưng chúng ta vẫn TÌNH NGUYỆN quên đi cảm giác đó, cố tình tin rằng mọi thứ là chuyển động liền mạch để có thể hưởng thụ bộ phim một cách chân thực nhất.

Ở ví dụ một, người nhìn thấy vòng tròn lửa là anh ta bị đánh lừa bởi ảo giác. Ở ví dụ hai, ta biết rõ chân tướng sự việc, biết rõ nguyên lý của chiếu phim điện ảnh, nhưng tình nguyện bị đánh lừa, cố tình tin vào ảo giác để tận hưởng một trải nghiệm thú vị. Đây là hai trạng thái: say ngủ trong giấc mơ và thức tỉnh TRONG giấc mơ. Điểm tiên quyết là phải có sự liền mạch, hoặc là phải có cảm giác về sự liền mạch, nếu không mọi thứ hoàn toàn vô nghĩa.

Trong quá trình thức tỉnh, ta sẽ dần dần phá bỏ ảo ảnh về sự liền mạch. Có thể ta sẽ dừng cuộn băng chiếu phim lại, để thấy rõ những bức ảnh đơn độc. Chúng ta có thể tự cắt đứt sự liền mạch bằng cách nhận ra rằng quá khứ không nhất thiết phải ảnh hưởng đến hiện tại. Ta không cần thiết phải dùng ký ức để định nghĩa ta hiện tại. Ngày hôm nay không nhất thiết phải mang theo toàn bộ tư tưởng của ngày hôm qua. Một phút hiện tại không nhất thiết phải mang theo cảm xúc của một phút trước. Cái ta đang trải nghiệm trước mắt không nhất thiết phải ảnh hưởng tới cảm xúc bên trong,…
Dần dần ta sẽ càng ngày càng nhìn rõ được mọi thứ hơn, càng ngày càng thấy sự hư ảo của bản ngã. Khi ta thấy rõ được các sự kiện là đứt đoạn không liền mạch, ta lại nhận ra rằng có một thứ liền mạch, thứ CHÂN CHÍNH liền mạch. Đó là gì? Là “cảm giác TA TỒN TẠI”. Nó chính là cái cuộn phim đó. Mọi hình ảnh được in trên bộ phim đó là tách biệt, là đứt đoạn, nhưng toàn bộ cuộn phim, bản chất của nó là liền mạch. Nó là liền mạch và cũng là NHẤT THỂ.

Bức họa

Gần đây tôi đọc được một bài thơ thời Đường Trung Quốc khá hay và để lại lại cho tôi nhiều suy nghĩ. Đó là bài thơ Họa của tác giả Vương Duy, một nhà thơ được mệnh danh là Thi Phật, ông là một học giả từng làm quan trong triều đến cuối đời ông ẩn cư và nghiên cứu Phật giáo, thơ của ông mạng đậm sắc thái Thiền tông.





Dịch thơ:
Xa nhìn núi hữu sắc,
Gần nghe nước vô thanh.
Xuân qua hoa vẫn tại.
Người đến chim chẳng kinh.

Mới đầu đọc chúng ta sẽ không thể hiểu được bài thơ này đang nói về điều gì vì có nhiều điểm không hợp lẽ thường. Nhưng khi đọc lại tiêu đề của bài thơ – Họa – chúng ta mới vỡ lẽ là tác giả đang miêu tả một bức họa. Rất có thể đây là một bức tranh thủy mặc, chỉ có màu mực đen trên nền giấy trắng, vẽ lại phong cảnh có núi có sông có hoa có chim. Đó là lý do ông viết: nhìn từ xa thì có vẻ như núi có màu sắc, lại gần để nghe thì nước sông hoặc suối chảy không hề có tiếng động gì cả, xuân đã qua nhưng hoa vẫn còn tại ở đó (trên giấy), và người đến gần cũng không làm con chim trong bức tranh kinh sợ (hiển nhiên rồi). Vậy tại sao ông ấy lại miêu tả những thứ hiển nhiên như vậy? Chắc chắn là có rất nhiều cách giải thích và phân tích từ các học giả trong nhiều thời đại, nhưng tôi chưa từng đọc các bài viết đó. Bài thơ này như một tuyệt phẩm nó cứ mãi vang lên trong tâm trí tôi khiến cho tôi phải viết ra bài này vào blog. Giống như một bài hát bắt tai mà một khi bạn đã nghe, giai điệu của nó cứ tự động vang vang mãi trong đầu của bạn khiến cho bạn vô thức hát vu vơ theo tại một lúc nào đó.

Cảnh đẹp là thứ luôn khiến ta muốn ngắm nhìn mãi không thôi, muốn lưu giữ lại nó vĩnh viễn để có thể luôn luôn thấy. Nhưng ta đâu có biết rằng, nếu cảnh đẹp luôn luôn tại đó như vậy, vậy nó cũng không còn thực sự là cảnh đẹp. Chúng ta biết cái đẹp là đẹp chỉ vì chúng ta đã từng nhìn thấy cái xấu hơn. Ta biết rằng hoa đẹp vì ta đã nhìn thấy hoa tàn. Chúng ta vì muốn lưu giữ lại những khoảnh khắc đẹp nhất mãi mãi mà vẽ họa lại phong cảnh. Nhưng chúng ta không biết hoặc cố tình phớt lờ đi sự thật rằng: Cái đẹp là ĐẸP bởi vì nó sẽ tàn lụi đi, nó là vô thường, nó luôn thay đổi. Vì biết rằng hoa sẽ sớm tàn, chim sẽ sớm bay đi, nên ta mới chăm chú ngắm nhìn và thưởng thức chúng. Nếu hoa và chim mãi ở đó như vậy, có lẽ ta sẽ chẳng liếc nhìn tới lần hai. Nếu ngày nào chúng ta cũng nhìn thấy cái đẹp y nguyên tồn tại như vậy, cái đẹp sẽ nhanh chóng trở thành cái bình thường, thậm chí trở thành cái xấu. Điều này không chỉ đúng với trải nghiệm thị giác, nó đúng với tất cả các trải nghiệm khác. Cái mà chúng ta gọi là những trải nghiệm đẹp, những điều mỹ hảo, những điều hạnh phúc, chúng chỉ là tốt đẹp khi mà nó không thường hằng, nó nhanh chóng lụi tàn đi. Vì thế nó mới sinh ra động lực thúc đẩy chúng ta tiếp tục hành động, có động lực để làm gì đó, để tìm kiếm lại những trải nghiệm hạnh phúc đó.

Giả sử bạn có thể trải nghiệm sự cực lạc vĩnh viễn, hạnh phúc mãi mãi về sau, những thứ đó cũng sẽ nhanh chóng trở thành tầm thường và xấu xí, có thể lúc đó cái vốn là xấu xa trong mắt bạn lại trở thành cái đẹp. Có thể bạn lại muốn trải nghiệm một chút đau khổ, một chút thương tâm, một chút bất ngờ, một chút cực nhọc, ai mà biết được. Cái mà chúng ta thực sự muốn, cái ĐẸP thực sự đó là sự thay đổi trải nghiệm, thay đổi càng nhanh chóng, biến hóa cao độ càng mạnh mẽ càng tốt. Đó là lý do chúng ta rất khó tập trung vào một thứ, đó là lý do chúng ta thích xem drama, các bộ có tình tiết thay đổi chóng mặt đưa bạn từ cảm xúc này đến cảnh xúc khác. Đó là lý do ta thích xem các video ngắn. Đó là lý do chúng ta thích tình dục. Đó là lý do người ở thành phố thì thích đi về đồng quê, rừng núi du lịch, người ở đồng quê rừng núi lại thích lên thành phố du lịch. Sự thay đổi, sự vô thường chính là CÁI ĐẸP của nhân sinh mộng cảnh này. Nhìn rộng hơn nữa, sự vô thường cũng là vô thường, cũng không thể một mực mãi mãi như vậy. Một bộ phim hay là một bộ phim có kết thúc, chứ không phải một bộ phim kéo dài vĩnh viễn. Cuộc sống đẹp là một cuộc sống có sự chấm dứt. Đừng tham cái gọi là “sự sống đời đời”. Đừng như bức họa kia, đóng khung lại, muốn lưu lại cái đẹp vĩnh viễn, nhưng nó đã sớm mất đi vẻ đẹp ban đầu của nó, mất đi bản chất tự nhiên của nó, mọi thứ trở nên nhạt nhẽo vô vị.

Luôn luôn quay về cái bản nguyên

Trước đây tôi từng trăn trở rất nhiều câu hỏi quái đản. Chẳng hạn, một người mù bẩm sinh sẽ “nhìn” thế giới như nào, sẽ nằm mơ như nào. Sau này tôi tìm hiểu thì họ nói rằng, ban ngày có những nhận thức như nào về thế giới (nghe âm thanh, sờ nắm, cảm giác,…) thì khi nằm mơ cũng có những nhận thức như vậy. Và khi nằm mơ họ cũng không biết đó là giả, chỉ khi tỉnh dậy thì họ mới biết. Đầu tôi lại nảy ra một câu hỏi oái ăm nữa, nếu họ không thể “mở mắt” ra để nhìn thì tại sao họ biết được là họ đã vừa tỉnh lại với thế giới thật. Thực ra câu trả lời cũng đơn giản, cũng hoàn toàn giống như chúng ta, những người sáng mắt. Khi họ tỉnh giấc khỏi một giấc mơ, họ nhận thức lại được mọi thứ quen thuộc của thế giới thường ngày, cảm nhận được cái giường vẫn thường nằm, mùi hương căn phòng, âm thanh quen thuộc…, và nhớ ra là hôm qua mình đã lên giường đi ngủ. Do đó họ nhận định được đây đang là thực tại. Tóm lại, là do KÝ ỨC.

Quan niệm về thế giới và quan niệm về bản thân được định hình bởi ký ức. Nếu ký ức thay đổi thì mọi thứ thay đổi, giống như trong một giấc mơ. Chúng ta đã nói nhiều lần về vấn đề này. Ký ức định hình không gian, và cũng định hình thời gian. Ký ức liền mạch tạo ra ảo giác dòng thời gian liền mạch. Tôi nhớ mình từng xem một bộ phim hài của Mỹ, nhân vật chính có một thiết bị có thể giúp anh ta “nhảy cóc thời gian” để tới tương lai của chính mình. Chẳng hạn anh ta không thích những ngày đi làm mệt mỏi, vì thế anh ta nhảy thẳng đến ngày cuối tuần để được nghỉ ngơi, đi chơi. Sau này anh ta hối hận vì đã sử dụng quá nhiều vì hiện tại thời gian trong cuộc đời không còn nhiều. Nhưng tôi tự hỏi, sẽ thế nào nếu thiết bị đó chỉ là dối trá, nó chỉ là thứ xóa ký ức của anh ta. Tức là anh ta vẫn trải nghiệm mọi thứ bình thường, vẫn đi làm những ngày mệt mỏi đó, nhưng mỗi lần anh ta bấm nút là sẽ quên hết ký ức trong những ngày đó, vì thế trong nhận thức của anh ta, mọi thứ giống như là vừa nhảy vọt tới tương lai. Tất nhiên kịch bản của bộ phim không phải thế, nó là để dạy cho chúng ta bài học về việc biết trân trọng mọi khoảnh khắc trong cuộc đời, nhưng thuyết âm mưu của tôi hoàn toàn hợp lý. Ít nhất thì việc chế tạo ra một thiết bị xóa ký ức sẽ khả thi hơn rất nhiều so với việc chế tạo ra một cỗ máy du hành thời gian thực sự, và sẽ chẳng có nghịch lý thời gian nào xảy ra cả. Tương tự, việc du hành về quá khứ cũng vậy. Chúng ta có thể tạo ra một cỗ máy tạo ký ức giả, xóa hết ký ức thực của mình và bơm vào đầu chúng ta một ký ức rằng chúng ta có một cuộc thực tại chẳng hạn ở năm 2300, rồi hiện tại vừa dùng cỗ máy thời gian du hành về 2025!! Nghe có vẻ điên rồ nhưng điều tương tự như này vẫn luôn xảy ra hằng đêm mỗi khi ta nằm mơ, ta quên hầu hết mọi thứ ở cuộc sống “thực” và có ký ức giả về thế giới mơ, khiến cho ta tin rằng thế giới trong mơ mới là thực. Tôi nhớ lại về một giấc mơ của tôi, tôi có khả năng bay, và tôi bay thỏa thích, bay đi thật xa, tôi rất phấn khích, nhưng hoàn toàn không nghi ngờ gì về khả năng phi thường này, trong giấc mơ tôi cho rằng chuyện đó là hiển nhiên và tôi có khả năng bay như vậy từ rất lâu rồi.

Một vấn đề khiến rất nhiều nhà khoa học và triết học tranh luận là: Nếu một ngày đó con người có khả năng tải mọi ký ức của mình vào máy móc, hoặc là thay thế toàn bộ thân thể xác thịt bằng máy móc, vậy người đó có còn là chính bản thân họ không hay là đã trở thành một người khác?

Những câu hỏi, những vấn đề liên quan đến ký ức dường như rất đau đầu hại não, nhưng nếu chúng ta truy tố ngược lại về bản nguyên, mọi thứ lại trở nên rất giản đơn. (Thực ra mọi câu hỏi đều có thể như vậy). Những câu hỏi về ký ức giả định rằng đang có một thực thể mang trong mình ký ức. Nhưng thực thể này có thực không? Nếu thực thể đó không có thực, không tồn tại thì toàn bộ mọi câu hỏi, mọi vấn đề theo sau nó hoàn toàn sụp đổ, không còn có bất cứ nghĩa lý gì hết. Đó là lý do các bậc thầy giác ngộ luôn muốn chúng ta truy vấn Ta là ai, cái bản ngã này là gì,… Đây chính là quay về bản nguyên. Luôn luôn nhớ về bản nguyên. Chúng ta không chạy theo những tri thức huyền học hão huyền, hay những tri thức khoa học cao siêu. Tất cả tri thức đều sụp đổ như một lâu đài cát nếu chúng ta làm rõ ràng rằng bản ngã không có thực. Đây chính là ranh giới giữa tỉnh và mơ. Ý thức là thứ duy nhất thực, còn nội dung của nó thì không. Nội dung của ý thức, nội dung của một giấc mơ, nội dung của một bộ phim, có thể thiên biến vạn hóa, vô hằng vô tận, có thể tự mâu thuẫn với chính nó, có thể đầy nghịch lý, có thể có ý nghĩa, có thể là vô nghĩa, chúng ta không có đủ thời gian và năng lượng để quan tâm đến tất cả mọi thứ đó. Giống như trong một công viên giải trí vui chơi, ta chỉ có thể chơi một vài trò, giỏi chơi một vài thứ chứ không thể là toàn bộ. Ý tưởng về việc trở thành một vị thần toàn tri, toàn năng chỉ là mộng ảo hão huyền, là một ý tưởng mà Maya cài cắm vào để cho ta mãi mãi chìm đắm trong giấc mơ này. Mãi mê vui chơi, mải mê tìm hiểu mọi thứ mà quên quay về nhà, quay về cái bản nguyên.

Triết học Ấn Độ giáo có một câu ngắn gọn để mô tả Brahman, Thực Tại Tối Hậu là: sat-chit-ananda tức là Tồn tại- Ý Thức – Chân Phúc. Đây là một cách nói khác về Chân Lý. Ta có thể thấy nó không hề nhắc tới quyền năng hay tri thức gì cả. Nó rất đơn giản. Chính vì nó quá đơn giản nên mọi người xem nhẹ nó, bỏ qua nó, tìm đến những gì cao siêu hơn. Họ cho rằng không thể nào là vậy. Bởi vì dường như ai cũng có ai cũng tồn tại, ai cũng ý thức, nhưng sao không hạnh phúc? Vì vậy, ananda tôi không dịch là hạnh phúc mà tôi để Chân Phúc để phân biệt với thứ sung sướng, khoái lạc, vui vẻ tầm thường của thế gian. Chân Phúc này là khi ta thường trú trong Ý Thức thuần khiết, tự tại tự nhiên, không phụ thuộc vào sự kiện, hoàn cảnh thế gian. Người ở trong trạng thái ananda vẫn có thể trải nghiệm đau đớn, vui khổ,…của thế gian như người bình thường nhưng không bao giờ nhầm lẫn rằng nó là thực, và không còn bám chấp vào nó. Giống như một diễn viên vẫn diễn vai của mình một cách trọn vẹn nhưng không bao giờ quên thân phận thực của mình. Có mấy người thực sự tin tưởng điều này. Có mấy người THỰC SỰ làm được điều này? Có mấy người MUỐN điều này? Đây không phải thứ mà người ta có thể muốn. Nó giống như là KHÔNG gì cả.

Suy nghĩ về mối quan hệ thầy trò

Tôi có một người thầy, là một người Mỹ, người đã dạy tôi Hành Trình 40 bài thiền định và nhiều thứ khác, và giới thiệu tôi tới sách của Jed McKenna. Chúng tôi chỉ quen biết qua mạng xã hội facebook, nhưng mối quan hệ của chúng tôi khá là vi diệu, vừa như là thầy trò, vừa như là bạn bè, vừa như là gia đình. Ông ấy như là một người chỉ tay tới con đường và tôi đã đạp vào con đường này. Chúng tôi đã quen nhau nhiều năm nhưng giờ chúng tôi càng ngày càng ít liên lạc vì giờ ông ấy đã cao tuổi. Bây giờ nhìn lại, có lẽ tôi đã “giết” ông ấy, giống như câu nói trong Thiền tông “Hãy giết Phật!”, tức là không còn bám víu, chấp chước vào một hình tượng cứu cánh. Hãy tự mình cứu lấy mình. Tôi cũng đã “giết” rất nhiều các vị thầy khác, tất cả đều là các vị thầy trong quá khứ và trong sách (Ramana, Nisargadatta, Lão Tử, Jed,…) Mỗi một vị thầy là một cột mốc, một tấm bảng chỉ đường trên con đường này, và nếu tôi muốn đi tiếp thì tôi phải vượt qua họ và không nhìn không bám víu vào họ nữa. Không ai có thể cõng ta hay dắt ta đi được. Tự mình cứ đi, đi mãi, xa hơn nữa. Vì cái gì? Tôi không biết. Giống như con cá hồi cứ bơi ngược dòng trở về nguồn cội mà thôi.

Tôi thấy có sự khác biệt rất lớn giữa mối quan hệ thầy – trò giữa phương Đông và phương Tây. Ở phương Đông là văn hóa tôn sư trọng đạo, thầy dạy như nào thì trò phải học như vậy, anh có thể hỏi, nhưng không được phép chất vấn, nghi ngờ trình độ của người thầy. Chính vì thế nhiều khi trong quá trình học, trò có nghi hoặc nhưng không dám mở miệng. Hoặc có học sinh dám phản biện thì người thầy cũng thường vì sĩ diện nên nhất quyết không chịu nhận sai. Có lẽ vì thế mà các giáo lý triết học phương Đông cứ thất truyền dần. Hiện tại nó trở thành một thứ gì đó mơ hồ, khó hiểu. Ở phương Tây thì ngược lại, tư tưởng cởi mở hơn, khuyến khích sự phản biện. Họ có thể trực tiếp hỏi vị thầy rằng ông đã giác ngộ chưa, ông có quyền năng tâm linh nào không,…Họ có thể thẳng thắn nói rằng tôi không đồng ý với cách nhìn của ông, phương pháp của ông,…Vậy việc học sẽ trở thành một mối quan hệ tương tác hai chiều, trò sẽ hiểu sâu hơn về thầy, mà thầy cũng biết hơn về trình độ của trò và có thể cải tiến hơn về cách dạy của mình. Ở văn hóa phương Đông, việc xưng hô cũng trở thành một rào cản lớn. Bản chất việc xưng hô đã phân biệt thành trên – dưới, người được tôn kính – kẻ phải tôn kính. Ví dụ, khi tôi gặp một vị sư, tôi không biết nên xưng hô như nào cho phải, xưng là thầy – con, hay xưng là tôi – ngài, anh-em? Tôi không theo đạo Phật, ông ấy cũng không dạy gì cho tôi, tại sao ông lại tự xưng là “thầy” với tôi, có phải ông tự cho là đi tu thì sẽ mặc định là cao cao tại thượng hơn người phàm tục? Chính vì nhưng lý do này, khiến cho việc giao tiếp trở nên lúng túng khó xử, ít có khả năng giao lưu truyền tải được cho nhau điều gì. Nếu chúng ta sử dụng tiếng Anh, đơn giản chỉ xưng hô là ‘I’ và ‘you’ thì sẽ tránh được những rắc rối không cần thiết như vậy. Một số người nhắn tin cho tôi, có người gọi tôi là thầy, có người gọi là anh, có người gọi là bác. Họ có xu hướng cho tôi là bề trên nên tôi khó xử một chút, tôi chỉ muốn xưng hô với tất cả mọi người như bạn bè (tôi – bạn), khi chúng ta bình đẳng, không còn câu nệ, cuộc trò chuyện mới có thể cởi mở, thẳng thắn và chân thực.

Chúng ta có cần phải có một người thầy/chân sư không? Cần. Một người chân sư giống như một tín ngưỡng, một sự đảm bảo cho chúng ta rằng con đường này có thể đi thông được, giống như ánh sáng cuối đường hầm, ta không biết ta cần phải đi bao xa bao lâu nữa, nhưng nhất định có hy vọng. Nhưng nếu chúng ta không có một chân sư, không có người chỉ lối, vậy thì khó khăn rồi. Khi đó, động lực duy nhất khiến chúng ta đi lên đó là sự căm ghét hiện tại, căm ghét nơi ta đang ở, vì thế lựa chọn duy nhất là phải đi lên, thoát khỏi chỗ này, tự mò mẫm ra con đường. Đây là cần đại lượng trí tuệ và nghị lực. Và thật không may, dù ta có chân sư chỉ đường thì cũng sẽ tới thời điểm mà ta phải tự suy nghĩ và mày mò đường đi tiếp giống như vậy. Chân sư chỉ là người chỉ lối chứ không phải là người giữ chân ta. Dù có đi tới nơi ánh sáng đó, vẫn phải tự học cách thích nghi đôi mắt trong ánh sáng và mày mò bước đi tiếp trong ánh sáng.

Suy nghĩ về sự mong đợi

Tôi nhớ về những ngày năm ấy, những ngày mới chập chững tìm hiểu về mọi thứ liên quan tới tâm linh, những ngày học cách “tu”. Những ngày tràn đầy niềm tin hy vọng, đầy hào hứng và cũng đầy sự ấu trĩ. Tôi đã cho rằng mình đã tìm thấy con đường, một thứ sẽ thay đổi cuộc sống của tôi và đúng là nó đã hoàn toàn thay đổi cuộc sống của tôi thật. Nhưng không phải là theo cách mà tôi đã MONG ĐỢI. Những năm tháng đó, mỗi ngày tôi đều mong đợi sẽ có điều kỳ diệu nào đó xảy ra với mình, mong đợi rằng tôi sẽ có gì đó đặc biệt, hoặc mong đợi rằng cuộc sống của tôi sẽ trở nên yên bình và hạnh phúc hơn. Mong đợi một siêu năng lực nào đó khai mở, mong đợi một trí tuệ siêu nhiên sẽ thức tỉnh, mong đợi mình sẽ trở nên tốt đẹp hơn,…Nhưng thực sự đã không có gì xảy ra, thậm chí cuộc sống của tôi còn trở nên tệ hại hơn. Mỗi ngày thức dậy đều phải đối mặt với những áp lực quen thuộc của cuộc sống, đã không có kỳ tích nào xảy ra, giờ còn phải gánh thêm sự thất vọng về bản thân trong quá trình tu tập. Tôi đã nghĩ có lẽ mình là kẻ thất bại. Thật là ấu trĩ. Thật giống những kẻ ngốc nghếch hào hứng tham gia một khóa học làm giàu và ảo tưởng rằng mình sẽ trở thành tỉ phú sau một hai năm đầu tư. Tôi đã nghĩ rằng, một hai năm tu luyện rồi sẽ thành thần. Chúng ta dễ dàng bị dụ dỗ bởi trên mạng có vô số bài viết về người này người nọ còn trẻ tuổi mà đã tự làm giàu, tự kiếm tiền mua nhà mua xe và cũng có rất nhiều người tự nhận mình còn trẻ mà tu tập tâm linh đã có thành tựu, có giác quan thứ sáu, khai mở con mắt thứ ba, có thể tiên tri bói toán, tự chữa lành bệnh, họ kể về những trải nghiệm thần kỳ của họ,… Về bản chất, cả hai trường hợp đều như nhau. Đều là những câu chuyện khiến người ta mơ tưởng tới một kết quả. Nói hoa mỹ là mơ đến một cuộc sống hạnh phúc. Nói trắng ra là cố thỏa mãn dục vọng bản ngã, cố gắng thỏa mãn sự thiếu an toàn, thiếu chân thực của bản ngã. Tiền tài có thể tạm thời làm được điều đó, các quyền năng tâm linh cũng vậy. Những cái bẫy này còn đánh trúng vào lòng tham của chúng ta: tham làm ít công to, tham trả giá ít mà hưởng lợi nhiều, tham nhanh chóng mà hiệu quả mạnh mẽ tức thì. Tỉnh lại đi, chẳng có ai có thể tìm được hạnh phúc an lạc cả đời chỉ sau một khóa học thiền định hay giác ngộ sau khi đọc xong một cuốn sách cả.

Mong đợi mọi thứ như vậy nhưng đời không như mơ. Không có gì xảy ra đúng như tôi đã mong đợi. Thứ thực sự đến lại là thứ mà tôi không mong đợi. Giống như chẳng có ai mong đợi mình sẽ chết, trừ khi người đó đang bị bệnh. Điều đã xảy đến với tôi không phải là sự thức tỉnh tới một trạng thái cao hơn mà là sự vỡ mộng, và tôi thực sự biết ơn điều này. Sự vỡ mộng khiến cho tôi vứt bỏ mọi tư tưởng hoang đường, khiến tôi suy nghĩ rất nhiều và thấu hiểu sâu sắc hơn về bản ngã của mình, về nỗi sợ hãi của mình. Tôi đã mong đợi mình sẽ đắc được điều này điều nọ, nhưng thực tế tôi lại mất đi nhiều thứ. Thậm chí mất luôn cả sự mong đợi. Mong đợi là một sự phóng chiếu về tương lai, là một sự tưởng tượng. Tôi có thể tưởng tượng nhưng tôi không sống trong sự tưởng tượng. Cái hư ảo có thể diễn ra trước mắt tôi dưới nhiều cấp độ nhưng tôi luôn phân biệt rạch ròi đâu là thực và tôi trú trong cái Thực. Tôi vẫn luôn có nhiều ý tưởng về các trường hợp có thể xảy ra nhưng tôi không mong đợi mọi thứ sẽ diễn ra theo ý mình. Mọi điều xảy ra luôn là điều tốt nhất bởi vì nó XẢY RA. Khi một điều gì tốt đẹp xảy ra hãy biết hơn, ngay cả khi có điều gì đó tồi tệ xảy ra, cũng hãy biết ơn vì ít nhất điều tồi tệ nhất mà ta có thể tưởng tượng ra đã không xảy ra. Đó là cách mà tôi hiện tại đang sống. Và theo cách này thì dường như không có gì thực sự là xấu cả.

Giống như cây sáo

Hôm nay rảnh rỗi mang sáo trúc ra thổi, bất giác tôi lại nhớ về những ngày đầu mình tập sáo, đó đã là mười mấy năm trước, khi tôi còn là sinh viên. Từ lâu tôi đã rất thích nghe tiếng sáo và ngày đó đã quyết định tự học sáo. Cái khốn khổ của tôi lúc đó không phải là việc thổi sáo quá khó, mà là tôi không có một nơi thích hợp để tập luyện. Tôi tự học hoàn toàn một mình, không có thầy giáo, cũng không có tham gia câu lạc bộ nào. Khi đó, tôi ở trong một xóm trọ nhỏ, đông đúc với đủ thành phần người thuê. Đặc điểm khác biệt của sáo trúc so với các loại nhạc cụ khác là đã thổi thì phải thổi to, thổi mạnh thì mới ra âm thanh chuẩn, không thể cho “nhỏ tiếng” được, nhất là khi thổi các nốt cao. Thành ra, mỗi lần tôi tập thổi sáo sẽ là gây ồn ào, ảnh hưởng tới những người khác. Có lúc người ta lên nhắc nhở tôi. Điều này khiến cho tôi rất ngượng ngùng và xấu hổ. Do đó tôi rất ít dám tập thổi sáo ở xóm trọ, chỉ khi về quê mới có đủ không gian thoáng để tập luyện, tôi hết sức tận dụng thời gian đó. Dần dần tiếng sáo cũng ổn. Tuy nhiên, tôi vẫn chỉ thích thổi sáo ở nơi không người. Có một nỗi sợ hãi vẫn luôn thường trực trong tôi.. Đó là do tôi sợ mình thổi dở làm người khác khó chịu, sợ họ đánh giá phán xét xấu về mình. Vâng, thực ra đây là một nỗi sợ rất phổ thông, sợ hỏng mất hình tượng bản thân, suy cho cùng cũng là sợ đánh mất bản ngã. Tôi học thổi sáo ngoài việc thỏa mãn bản thân, cũng là có mang một chút hy vọng xây dựng hình ảnh con người mình. Tôi có muốn mọi người nghĩ về mình là một người tốt đẹp, thêm một sự tốt đẹp là biết thổi sáo, biết chơi nhạc cụ, là người nghệ sĩ,… chứ không phải gây ấn tượng xấu là kẻ gây ồn ào phiền phức. Vậy có thể làm hỏng hình tượng bản thân mình trong mắt người khác. Tất nhiên, đó là do tôi sợ hãi, nên tôi có thể tượng tượng ra mọi trường hợp xấu đó. Thực tế là có thể người nghe không hề ghét tiếng sáo của tôi, thậm chí có thể là ưa thích nữa, hoặc có thể là chẳng có người nghe nào, chẳng có ai thèm để ý. Có thể tất cả chỉ là tôi đang tự TƯỞNG TƯỢNG ra. Ai mà biết được.

Nếu nhìn nhận cẩn thận, nỗi sợ hãi này có ở mọi phương diện, mọi khía cạnh trong đời sống chúng ta. Nỗi sợ bị phán xét là xấu, sợ hỏng mất hình ảnh bản thân, sợ đánh mất bản ngã. Tôi nhận ra rằng để vượt qua nỗi sợ này, có một cách. Nếu đã sợ mất bản ngã, vậy hãy cho nó mất luôn đi, (vì sau cùng thì nó cũng phải bị mất mà thôi) vậy thì không còn gì phải giữ nữa, vậy thì đâu còn gì để sợ. Khi ta đã mất tất cả, thì đâu còn gì nữa để sợ MẤT?

Có thể sẽ có người nói với tôi rằng: Nếu bạn nghĩ rằng cuộc sống là vô nghĩa và đằng nào cũng phải chết thì tại sao bạn không chết luôn ngay lúc này đi? Có thể bạn cũng đã từng tự nhủ như vậy. Câu hỏi này dường như là câu hỏi hợp lý, nhưng thực chất rất dễ dàng để phá hủy câu hỏi này. Sống và chết chỉ là hai mặt của đồng xu, nếu sống là vô nghĩa thì chết cũng là vô nghĩa. Vì thế có thể ta không cần lý do gì để sống, nhưng cũng không cần lý do gì để đi chết luôn. Nếu bạn có thể thuyết phục tôi rằng cái chết của tôi sẽ mang lại ý nghĩa hơn sự sống của tôi, thì tôi sẵn sàng tự hủy ngay. Thực tế trong nhiều trường hợp, có những bậc giác ngộ vẫn chủ động tọa hóa khi tới thời điểm. Tôi vẫn sống một cách bình thường, nhưng tôi sẽ không từ chối cái chết khi nó mở ra với tôi. Nhiều người có thể cho rằng đây là một cách sống tiêu cực, nhưng tôi hoàn toàn dựa vào vũ trụ này, hoàn toàn tin tưởng nó, thả trôi mặc cho nó chảy đi đâu thì chảy, giống như một chiếc là trên một dòng sông.

Mọi người có thể đang nhìn thấy tôi đang sống, sinh hoạt, nhảy nhót tưng bừng như một người bình thường, nhưng thực ra tôi đã chết rồi nếu nói theo một khía cạnh nào đó. Tôi cũng nhận ra rằng chỉ khi mình quên mất bản thân, quên luôn cả thế giới xung quanh, thì tiếng sáo của tôi mới hay nhất. Cây sáo, chỉ là một tử vật, một thanh trúc bị chặt ra khỏi cây, nó đã chết, nhưng nó vẫn phát ra âm thanh tuyệt diệu. Vì sao? Vì nó TRỐNG RỖNG. Nguyên bản, cây trúc không được thông lỗ hai đầu, người làm sáo chặt nó ra và đả thông các đốt trúc để tiếng gió có thể đi vào và đi ra được, nhờ kết cấu của ống trúc và lỗ thổi gió từ đó vào mà nó phát ra được âm thanh. Sau đó người ta đục thêm các lỗ khác để tạo thanh âm trầm bổng. Tôi cũng giống như thanh trúc kia vậy, đã là tử vật, bị đả thông, trống rỗng, có thể phát ra âm thanh. Những dòng chữ này là âm thanh của tôi. Tôi không biết nó đến từ đâu, nhưng tôi cứ viết ra nó như vậy một cách tự động. Những âm thanh của tôi có thể hay, có thể dở, cây sáo bản thân tôi có thể vẫn chưa được đục lỗ một cách hoàn hảo, nhưng ít nhất, tôi không còn nỗi sợ năm xưa, tôi không sợ bị người ta đánh giá, bị phán xét, không sợ gì cả. Một cây sáo bản thân nó có thể sợ gì sao? Chỉ có cái bản ngã giả tạo mới sợ.

Suy nghĩ về thói quen

Theo giáo lý đạo Phật, một nhân tố quan trọng khiến cho con người mãi luân hồi đó là vasana. Vasana có thể được định nghĩa theo kinh sách là những khuynh hướng vi tế của tâm trí, những dấu ấn trong tàng thức, chủng tử,…những thứ âm thầm ảnh hưởng đến hành động hiện tại của chúng ta. Ở đây, tôi sẽ sử dụng một thuật ngữ đơn giản hơn đó là “thói quen”. Cách làm của chúng ta sẽ dỡ bỏ hết những quan niệm rườm rà không cần thiết để đưa về cái cốt lõi, cái tối giản. Thói quen là từ những thói quen nhỏ nhặt nhất. Ví dụ, mỗi khi thức giấc bạn sẽ đều đi vệ sinh, đánh răng, rửa mặt. Khi nó đã hình thành thói quen của bạn thì ngày nào bạn cũng làm những việc đó mà không cần suy nghĩ gì về chúng. Nếu ta phải làm một điều gì đó khác thói quen thường ngày , ta sẽ phải suy nghĩ về nó. Chẳng hạn, sáng nay tôi buộc tôi dạy sớm hơn để chạy bộ, ngay lúc tỉnh dạy, đầu tôi tự động nảy ra các suy nghĩ liên quan tới việc chạy bộ (chạy ở đâu, chạy bao lâu, hay là không chạy nữa, ngủ tiếp,…) Việc đi xe máy đi làm cũng vậy, khi nó đã thành thói quen của bạn, khi ngày nào bạn cũng đi chiếc xe máy đó, đi quãng đường đó, trong thời gian đó, bạn sẽ không hề suy nghĩ gì về việc lái xe, không hề tập trung về những gì đang xảy ra trên đường mà tâm trí bạn sẽ lang thang tới những suy nghĩ khác.

Nếu chúng ta suy tư kỹ lưỡng, ta sẽ thấy phần lớn các hành động trong ngày của ta đều là do thói quen. Khi ta đã hình thành thói quen, ta sẽ luôn có khuynh hướng tiếp tục thực hiện điều đó, và tôi gọi điều này là “luân hồi”. Luân hồi là thứ xảy ra hàng ngày chứ không phải chỉ xét với kiếp này kiếp khác. Tức là nó xảy ra từ cấp độ nhỏ nhất cho tới lớn nhất. Chúng ta chưa thể nhìn thấy toàn bộ bức tranh, chưa thể nhìn thấy cái lớn, vậy hãy bắt đầu nhìn từ cái nhỏ nhất, định hình nó rồi dần dần lùi lại, lùi ra xa hơn, lùi xa hơn nữa để có được cái nhìn toàn cảnh.

Những thói quen nhỏ bắt nguồn từ một thói quen lớn, những thói quen lớn bắt nguồn từ một thói quen lớn hơn, và cứ thế. Chẳng hạn, bạn có thói quen dạy lúc 7h, thói quen uống một cốc cà phê mỗi ngày, nó bắt nguồn từ thói quen làm việc mỗi ngày. Nếu không làm việc thì bạn có thể sẽ không có hai thói quen kia. Thói quen làm việc mỗi ngày lại có thể bắt nguồn từ thói quen kiếm tiền và tiêu tiền. Nếu chưa có thói quen kiếm tiền/tiêu tiền thì có thể bạn sẽ không cần tiền và sẽ không hình thành thói quen làm việc. Chẳng hạn nếu bạn đã luôn được bố mẹ cho tiền tiêu, không cần phải kiếm tiền, thì bạn sẽ chẳng có thói quen làm việc mỗi ngày,… Cứ như thế, một thói quen có thể do nhiều thói quen khác tác động gây ra và ngược lại.

Có một điều rất quan trọng cần lưu ý là chúng ta đang tự định nghĩa bản thân mình qua những thói quen đó. Ví dụ, bạn ngày nào cũng dậy sớm để tập thể dục và làm việc thì bạn đang tự nghĩ mình là một người chăm chỉ. Ngày nào bạn cũng ngồi thiền thì bạn nghĩ mình là một người tâm linh,… Việc thay đổi thói quen là khó khăn vì nó tương đương thay đổi bản thân, tức là giết đi một phần nhỏ của bản thân và thay thế nó bằng một phần khác (có thể là tốt hơn hoặc xấu hơn). Và điều đó khá là khó chịu lúc đầu, cho tới khi cơ thể mới của bạn thích nghi với phần mới và nó quen thuộc, vậy là bạn có thói quen mới.

Khi truy tố tới tận cùng ta có thể nhận ra rằng hầu hết mọi thói quen của ta đều bắt nguồn từ một thói quen LỚN: tự đồng hóa bản thân với cơ thể này. Tại sao tôi nói việc đồng hóa với cơ thể là thói quen? Vì nó chính là một khuynh hướng của tâm trí, của tiềm thức đã được hình thành cố định sau một thời gian. Hãy nhớ lại rằng từ lúc ta được sinh ra cho tới khi khoảng 3-4 tuổi, ta không hề có thói quen định nghĩa mình là cơ thể. Nó được hình thành do bố mẹ dạy chúng ta, khi bố mẹ ôm ấp chúng ta, khi họ nói cho chúng ta biết đâu là tay của ta, đâu là chân, cái gì là vật bên ngoài, cái gì là cơ thể, có thể là khi chúng ta sờ vào thứ gì không nên sờ, bố mẹ sẽ đánh vào tay ta và gạt đi,…Tất cả những điều đó dần dần hình thành và định hình thói quen đồng nhất rằng ta là cơ thể này, những thứ bên ngoài cơ thể không phải là ta. Để rồi mỗi sáng tỉnh dậy, ngay lập tức ta ý thức rằng mình là cơ thể này và cơ thể này sẽ làm những gì.

Thói quen lớn này chính là thứ đang đưa chúng ta luân hồi từng giây từng phút từng ngày, và có thể là từng kiếp sống? Và nếu ta thay đổi thói quen lớn này, điều đó đâu có khác gì tự giết chính bản thân mình? Và cái gì sẽ thay thế vào đó? Ai biết được, trừ khi chính ta đi vào con đường này.

Không có gì mới dưới ánh mặt trời

Câu nói “There is nothing new under the sun”, có được chép lại trong Kinh Thánh, người ta cho rằng vua Solomon, vị vua Do Thái khôn ngoan nhất, đã nói câu đó. Câu nói này khiến tôi liên tưởng tới hai mô thức sống. Mô thức sống thứ nhất là lấy vũ trụ làm cái thực/cái trường tồn, con người/bản thân là cái tạm thời. Mô thức thứ hai là lấy ý thức là cái thực duy nhất, mọi thứ khác đều là giả tạm. Mô thức sống thứ nhất là dựa trên niềm tin. Mô thức thứ hai là dựa trên Sự Thật- Sự Thật duy nhất – Sự Thật mà ta có thể tự trải nghiệm, tự kiểm chứng, tự xác thực.

Khi chúng ta hoàn toàn bước vào mô thức sống thứ hai, lấy ý thức làm cái Thực, mọi thứ đều được sáng tỏ. Giống như mặt trời soi sáng vạn vật, làm mọi thứ hiện hình, ý thức làm cho vạn vật được cảm giác, mọi ý nghĩ, cảm xúc được nhận thức, mọi hành vi được hành động,… Mọi thứ đều nằm trong ý thức giống như toàn bộ thế giới của ta được nằm trong ánh sáng của mặt trời. Mặt trời mang lại sự sống cho mọi vật, nhưng nó không hề quan tâm đến mọi thứ đó. Nó chỉ ở đó, tồn tại như là chính nó và tỏa ánh sáng là bản chất của nó, nó không hề có ý muốn gì cả. Mọi thứ tự diễn sinh dưới sự tồn tại của ánh sáng mặt trời một cách tự nhiên. Mọi thứ cứ sinh diệt, luân hồi lặp lại hàng triệu triệu lần. Mặt trời “nhìn thấy” mọi thứ nhưng không quan tâm, không can thiệp, nó đã vẫn như thế hàng triệu năm, vì vậy không có gì có thể làm cho nó hứng thú, không có gì bất ngờ, do đó nói “không có gì mới dưới ánh sáng mặt trời.” Khi nào ta cảm thấy mình thật thất bại vô dụng, hoặc cũng tự hào vì thành công vang danh, điều đó cũng không có gì khác biệt đối với mặt trời. Từ quan điểm của mặt trời, bạn chỉ là một chấm nhỏ phù du dưới sự tồn tại của nó.

Ý Thức – nó chỉ tồn tại như là chính nó. Mọi vật tự diễn sinh dưới tia sáng của Ý Thức. Giống như một giấc mơ tự nảy sinh khi ta say ngủ. Bạn có thể nghĩ rằng tại sao nó lại tự nhiên xảy ra được mọi thứ như vậy. Nói cho cùng thì Thực ra nó cũng không hoàn toàn là tự nhiên. Giống như sự sống không tự xảy ra dưới ánh sáng mặt trời, nó cần một địa phương nào đó làm bối cảnh – và đó là Trái Đất. Chúng ta cũng không thể tự nhiên mà tồn tại trong Ý Thức, chúng ta cần một bối cảnh nào đó. Tạo ra bằng cách nào? Bằng cách sử dụng trí tưởng tượng và niềm tin. Tưởng tượng ra nó và tin rằng nó là thực, là thứ vững chắc. Và rồi. Bùm! Chúng ta có bản thân mình và toàn bộ thế giới này đây. Nhìn nó khá là vững chắc và chân thực. Nhưng chỉ cần chúng ta dần rút bỏ năng lượng vào nó, gỡ bỏ dần niềm tin đó, nó dần dần trở nên nhạt nhòa, hư ảo và dần tan biến đi như chưa từng tồn tại như một giấc mơ.

Con người có tan biến, trái đất có diệt vong, thì mặt trời vẫn thế thôi, vẫn tỏa sáng, không có gì sai khác. Không có gì mới dưới ánh mặt trời.

Suy nghĩ về ký ức

Gần đây tôi có đi thăm bà nội của mình. Bà đã hơn 90 tuổi, rất yếu rồi, gần như không thể nhớ được chúng tôi là ai, và tôi đoán là bà đã quên gần hết mọi thứ trong đời. Điều này làm tôi suy nghĩ tới vấn đề về ký ức. Chúng ta đã từng nói về chủ đề này, nhưng nó luôn là một thứ luôn khiến chúng ta phải băn khoăn trầm ngâm mỗi khi nghĩ về.

Một đêm tôi có thể mơ cả chục giấc mơ khác nhau, tất cả đều thú vị, hào hứng, đầy cảm xúc. Nhưng tới khi tỉnh dậy, tôi chẳng thể nhớ được một chút nào cả. Vậy những trải nghiệm đó, những giấc mơ đó còn có ý nghĩa gì không? Tương tự, trong cuộc đời, chúng ta đã trải qua vô số điều vui sướng, hân hoan, nhưng tới cuối đời, ta không còn nhớ được gì cả. Vậy có phải tất cả đều chỉ là hư ảo, vô nghĩa? Tôi đoán là nhiều người sẽ trả lời là Không. Vì họ cho rằng giấc mơ chỉ là một thế giới cá nhân đơn lập của một người tự tạo ra, còn thế giới “thực” là có vô số cá nhân cùng sống chung trong một thực tại. Đây là một niềm tin được mọi người đồng thuận trong thực tại. Vì thế trong cuộc sống thực, ta có thể quên mất mình đã làm gì, nhưng những việc làm của ta vẫn có tác động và ý nghĩa tới người khác. Chẳng hạn nếu như tôi không còn nhớ được con gái của mình, nhưng những gì tôi làm với nó vẫn quan trọng, tôi vẫn là thứ gì đó có ý nghĩa với con tôi. Nhưng nếu mở rộng quan điểm ra tới cùng cực, ta sẽ thấy rằng thế giới thực cũng chẳng khác gì thế giới trong mơ. Chẳng hạn, đến một ngày nào đó con gái tôi cũng già đi và không còn nhớ gì về tôi. Tới một thời điểm nhất định tất cả thân nhân gia đình đời sau, đời sau nữa, không còn một ai biết gì về tôi. Tôi đã sống như chưa từng tồn tại. Bạn có thể nói, một số vĩ nhân để lại di sản bất diệt cho nhân loại như các phát minh, các tư tưởng,..Nhưng đó chỉ đúng trong bối cảnh loài người còn tồn tại, trái đất còn tồn tại. Nếu ta cứ mở rộng theo thời gian đến cùng cực, khi nhân loại diệt vong, khi trái đất không còn tồn tại, vậy tất cả cũng là vô nghĩa.

Thế giới giấc mơ là một phiên bản thu nhỏ, một bình diện nhỏ của thế giới “thực”. Về bản chất cấu trúc chúng tương đồng nhau. Tất cả đều là giả tạm, hư ảo và dần dần vạn vật sẽ quy về hư vô, quy về bản chất thực sự của chúng. “Quay về là cái chuyển động của Đạo.” – Đạo Đức Kinh. Chúng ta đã học được cách ghi nhớ các sự kiện, hình thành thói quen ghi nhớ từ khi ta khoảng 3-4 tuổi. Dần dần ta sử dụng ký ức đó, tạo ra câu chuyện về bản thân mình, để định nghĩa bản thân mình và để nhắc nhở mình là ai, mình đang làm gì trong thế giới này, mục đích của mình là gì và sẽ làm gì.
“Khi Đạo bị mất, nhân nghĩa mới phát sinh.” – Đạo Đức Kinh. Khi chúng ta quên mất bản chất thực sự của mình, nhân nghĩa mới phát sinh. Chữ nhân nghĩa ở đây không chỉ là đạo đức, mà nó nên được hiểu theo đúng nghĩa đen: Là Ý Nghĩa của nhân sinh, là ý nghĩa của cuộc sống, là ý nghĩa của việc làm người. Nhân nghĩa này là cái giả tạm, là nhân tạo, là ngụy nghĩa, chứ không phải chân nghĩa. Vì thế nó không thể trường tồn. Về cuối đời, tất cả mọi thứ nhân nghĩa đó đều tan biến, ta trở về với bản chất của mình: sự Tồn Tại thuần khiết. Ta quên hết mọi thứ, ta không còn nhu cầu định nghĩa bản thân, không còn ám ảnh với ý nghĩa cuộc sống, không còn quan trọng bất cứ ngoại vật hay ý tưởng triết học nào. Ta chỉ như Ta Là. Vậy thôi.